LUÔN CẬP NHẬT THÔNG TIN MỚI, HỮU ÍCH CHO QUÝ KHÁCH

Làm thế nào để bảo vệ gia đình khi chưa có vắc xin tay chân miệng?

Tay chân miệng là 1 trong 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong thuộc hàng đầu tại Việt Nam. Theo thống kê, mỗi năm có từ 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có cả một số trường hợp tử vong. Hiện nay vẫn chưa có vacxin ngừa tay chân miệng, nhưng bạn vẫn có thể bảo vệ người thân một cách hiệu quả nếu trang bị đầy đủ những kiến thức về bệnh.

Bài viết này được sự tư vấn chuyên môn của Bác sĩ Bạch Thị Chính – Giám đốc Y khoa Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC

Thời điểm giao mùa và tiếng còi báo động bệnh tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng thường bùng phát thành dịch theo chu kỳ vài năm một lần. Trong vòng 10 năm trở lại đây, nhiều đợt bùng phát dịch bệnh tay chân miệng đã được ghi nhận tại các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Ngoài ra trong những năm gần đây, số ca nhiễm bệnh tay chân miệng còn gia tăng ở một số quốc gia châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Việt Nam,…

Chưa có vacxin ngừa tay chân miệng nên tỷ lệ trẻ mắc bệnh hiện nay còn khá cao

Tại Việt Nam, bệnh lưu hành quanh năm nhưng đặc biệt tăng mạnh nhất là vào khoảng thời gian từ tháng 3 – 5, tháng 9 – 12. Khu vực phía Nam nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch bệnh khi chiếm đến 60% ca nhiễm trên toàn quốc. Vì chưa có vacxin ngừa tay chân miệng, nên tỷ lệ mắc bệnh hiện nay còn khá cao. Hàng năm có khoảng 50.000 – 100.000 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng được ghi nhận, trong đó có những ca tử vong.

Nguyên nhân bệnh tay chân miệng

Tay chân miệng là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus thuộc nhóm Enterovirus gây ra. Virus truyền bệnh tay chân miệng có hình cầu, đường kính từ 27 – 30 nm. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus tay chân miệng chủ yếu trú ngụ tại niêm mạc má hoặc niêm mạc ruột. Sau đó chúng di chuyển đến các hạch bạch huyết xung quanh, rồi xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng máu. Điểm dừng cuối cùng của virus tay chân miệng là niêm mạc miệng và da.

Virus có thể đào thải ra môi trường bên ngoài qua phân, dịch hắt hơi, dịch tiết ở mũi họng .

Virus tay chân miệng bất hoạt ở nhiệt độ 56 độ C trong vòng 30 phút, ở nhiệt độ lạnh 4 độ C, virus sống được vài ba tuần.

Virus thuộc nhóm Enterovirus là nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng

Những đối tượng nào dễ mắc bệnh tay chân miệng?

Trẻ em dưới 10 tuổi là đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh tay chân miệng. Đặc biệt, trẻ càng nhỏ thì triệu chứng bệnh càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng chỉ có trẻ dưới 10 tuổi mới có nguy cơ mắc bệnh tay chân miệng. Thực tế, tất cả những người chưa từng mắc bệnh đều có nguy cơ bị lây nhiễm khi chạm vào những dụng cụ hay bề mặt có nhiễm virus mà người bệnh từng tiếp xúc.

Theo ghi nhận các trường hợp nhiễm bệnh tay chân miệng, ngoài nhóm đối tượng chính là trẻ em, thì thanh thiếu niên và người trưởng thành nhiễm virus tay chân miệng cũng không phải là hiếm.

Phụ nữ mang thai nên lưu ý phòng tránh bệnh tay chân miệng, để tránh bị nhiễm bệnh và lây truyền virus sang cho con ngay trước khi sinh hoặc trong khi sinh.

Ngoài ra, những người đã từng mắc bệnh tay chân miệng vẫn có nguy cơ bị mắc lại nếu bị nhiễm một chủng virus khác từ nhóm Enterovirus.

Nhận biết khi mắc bệnh tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng thường có thời gian ủ bệnh từ 3 – 7 ngày. Sau đó, bệnh xuất hiện những triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ đến cao, có thể kèm theo triệu chứng ói và tiêu chảy.

Triệu chứng đặc trưng của bệnh là các nốt phỏng nước xuất hiện ở mạc miệng, lợi, lưỡi diễn tiến nhanh thành vết loét khiến người bệnh không ăn được và chảy nước bọt.

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, bệnh tay chân miệng rất khó được xác định nếu các nốt phỏng nước chỉ nổi trong miệng. Trẻ còn quá nhỏ để có thể nói cho phụ huynh biết rằng, bản thân có những phỏng nước ở miệng. Do đó, người thân nên lưu ý đến tình trạng sức khỏe của trẻ, khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu bất thường nào cần đưa trẻ đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị.

Người bệnh tay chân miệng thường phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông

Ngoài triệu chứng nổi phỏng nước ở miệng ra, người bệnh tay chân miệng còn phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Cần lưu ý đến vấn đề giữ gìn vệ sinh cá nhân để tránh tình trạng bội nhiễm vi khuẩn khi các nốt phỏng nước vỡ ra.

Đa số các trường hợp nhiễm bệnh tay chân bệnh có khả năng tự khỏi từ 3 – 5 ngày sau do cơ thể tự sản sinh ra kháng thể chống lại virus. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp bệnh diễn biến phức tạp và khó điều trị, nhất là khi virus ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương dẫn đến bệnh Viêm màng não.

Cẩn thận với các biến chứng của bệnh tay chân miệng

Biến chứng của bệnh tay chân miệng thường không phổ biến, bởi nếu người bệnh được chẩn đoán và điều trị kịp thời, các biến chứng của bệnh sẽ ít khi xảy ra. Một số biến chứng của bệnh tay chân miệng có thể gặp là: Biến chứng thần kinh và biến chứng hô hấp, tuần hoàn.

1. Biến chứng thần kinh

Viêm màng não vô trùng

Khi gặp biến chứng viêm màng não vô trùng, trẻ thường có những triệu chứng như sốt, ói, nhức đầu, quấy khóc, cổ gượng, thóp phồng và thường hồi phục từ sau 3 – 7 ngày.

Viêm não

  • Giật mình, hốt hoảng.
  • Run giật cơ  khi ngủ – ngủ gà: Run giật cơ xuất hiện theo từng cơn ngắn từ 1 – 2 giây, chủ yếu là ở tay chân.
  • Run rùng mình và loạng choạng.
  • Liệt thần kinh sọ, co giật và hôn mê.
  • Mắt nhìn lên, rung giật nhãn cầu, phản xạ mắt búp bê.

Yếu liệt chi

Bệnh nhân yếu, liệt mềm một hoặc nhiều chi.

2. Biến chứng hô hấp, tuần hoàn

  • Thường xảy ra trong bệnh cảnh có tổn thương não: sốt cao, thở nhanh nông, không đều, co kéo, phù phổi cấp (OAP).
  • Mạch nhanh >150 lần/ phút, huyết áp tăng sau đó huyết áp tụt.
  • Do tổn thương vùng thân não.

Điều trị bệnh tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các phương pháp điều trị bệnh tay chân miệng hiện nay chủ yếu là tập trung vào điều trị triệu chứng. Người bệnh tay chân miệng cần được theo dõi sát để phát hiện sớm và điều trị tích cực biến chứng. Bảo đảm nguồn dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân.

Theo phân độ lâm sàng, bệnh tay chân miệng chia ra làm 4 cấp độ. Độ 1, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, từ độ 2 bệnh nhân phải nhập viện để được điều trị.

1. Bệnh tay chân miệng độ 1

Trong 4 cấp độ của bệnh tay chân miệng theo phân độ lâm sàng, thì cấp độ 1 là nhẹ nhất. Bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú và theo dõi thêm tại bệnh viện, các cơ sở y tế. Khi điều trị bệnh nhân tay chân miệng cấp độ 1, người thân nên lưu ý:

  • Cho người bệnh nghỉ ngơi, tránh kích thích.
  • Hạ sốt, giảm đau bằng Paracetamol.
  • Vệ sinh răng miệng.
  • Tái khám mỗi 1 – 2 ngày, trong 7 ngày đầu của bệnh.

Nếu có những dấu hiệu chuyển biến nặng, bệnh nhân cần được đưa đi tái khám ngay:

  • Sốt cao  38 độ C.
  • Thở mệt.
  • Giật mình, rung chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, đi loạng choạng.
  • Ngủ nhiều, li bì.
  • Co giật, hôn mê.

2. Bệnh tay chân miệng độ 2

Bệnh nhân tay chân miệng độ 2 cần được điều trị nội trú tại bệnh viện, cơ sở y tế. Trong quá trình điều trị bệnh tay chân miệng, người bệnh cần được:

  • An thần, chống co giật bằng Phenobarbital 5 – 7 mg/kg uống hoặc tiêm bắp.
  • Nghỉ ngơi hợp lý, tránh kích thích.
  • Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, tri giác, ran phổi, độ bão hòa oxy trong máu ngoại vi (SPO2) mỗi 4 – 8 giờ.
  • Theo dõi sát, phát hiện kịp thời và điều trị biến chứng.
  • Trong một số trường hợp có thể xem xét chỉ định Immunoglobulin cho bệnh nhân.

3. Bệnh tay chân miệng độ 3

Người bệnh tay chân miệng độ 3 cần điều trị, săn sóc tăng cường.

An thần, chống co giật

  • Phenobarbital: 5 – 7 mg/kg pha trong Glucose 5% truyền tĩnh mạch trong 30 – 60 phút.

Chống phù não

  • Nằm đầu cao 30°, cổ thẳng.
  • Cho bệnh nhân thở oxy, nếu không hiệu quả nên đặt nội khí quản sớm và thở máy. Khi thở máy cần tăng thông khí, giữ PaO2 (phân áp oxy máu động mạch) ở mức 90 – 100 mmhg và PaCO2 (phân áp CO2 máu động mạch) ở mức 25 – 35 mmhg. PaCO2 thấp làm co mạch máu não, giảm lưu lượng máu lên não gây giảm áp lực nội sọ.
  • Khi có phù phổi, cho bệnh nhân thở máy với áp lực dương cuối kỳ thở ra  6cm nước.
  • Hạn chế dịch: tổng dịch bằng 1/2- 3/4 nhu cầu bình thường.

Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm và đường huyết cho người bệnh, lưu ý hạ natri máu và hạ đường huyết.

Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, tri giác, ran phổi, độ bão hòa oxy trong máu ngoại vi (SPO2) mỗi 4 – 8 giờ.

Khi bệnh nhân có dấu hiệu tăng huyết áp hay phù phổi, sử dụng Milrinone. Lưu ý không dùng Milrinone khi có sốc nặng.

4. Bệnh tay chân miệng độ 4

Xử lý các ca bệnh tay chân miệng độ 4 tương tự độ 3.

Điều trị sốc

  • Cho người bệnh thở oxy.
  • Truyền dung dịch điện giải (Natri Chlorua 0,9% hoặc Lactate Ringer) 10 – 20ml/kg/ giờ theo dõi mỗi 10 – 15 phút và điều chỉnh tốc độ dịch theo đáp ứng lâm sàng. Trường hợp không có cvp cần theo dõi sát 10 – 15 phút dấu hiệu phù phổi cấp. Khi có dấu phù phổi cấp phải ngưng dịch ngay.
  • Sử dụng vận mạch sớm: Dobutamin. Dopamine, TTM bắt đầu liều 5µg/kg/phút, tăng dần mỗi 15 phút cho đến khi có hiệu quả, liều tối đa 10 µg – 20/kg/phút.

Điều trị suy hô hấp

  • Thông đường thở: hút sạch đờm dãi.
  • Thở oxy nếu khó thở hoặc hôn mê, duy trì SPO2 trên 92%. Đặt nội khí quản sớm cho thở máy nếu có cơn ngưng thở hoặc thất bại với oxy, tránh thiếu oxy máu kéo dài làm tăng tình trạng phù não và tổn thương đa cơ quan dẫn đến tử vong.
  • Khi thở máy cần điều chỉnh thông số để duy trì PAO2 khoảng 90-100 mmhg và PACO2 25-35 mmhg. Áp lực đường thở tối đa dưới 35 CMH2O.
  • Điều chỉnh toan máu theo kết quả khí máu động mạch.

Phương pháp phòng bệnh tay chân miệng

Theo Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm – Thần Kinh, bệnh viện Nhi đồng 1, cố vấn chuyên môn Hệ thống tiêm chủng VNVC, cho biết: “Vacxin ngừa tay chân miệng hiện nay chỉ Trung Quốc sản xuất nhưng không nhập về Việt Nam. Hiện ở Việt Nam đang thử nghiệm giai đoạn 3 vắc xin của Đài Loan ở hai tỉnh miền Tây là Đồng Tháp và Tiền Giang. Nếu thử nghiệm này tốt, có lẽ vào năm 2022 vắc xin này mới có ở thị trường Việt Nam”.

Tuy vẫn chưa có vacxin ngừa tay chân miệng, nhưng bạn vẫn có thể chủ động phòng ngừa bệnh tay chân miệng bằng những biện pháp sau.

1. Giữ vệ sinh cá nhân

Giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ không chỉ phòng ngừa được bệnh tay chân miệng hiệu quả mà còn phòng được những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Người lớn và cả trẻ em nên rửa tay thường xuyên bằng xà phòng nhiều lần trong ngày, nhất là trước khi chế biến thức ăn, trước khi ẵm bồng trẻ, sau khi đi vệ sinh.

Giữ vệ sinh cá nhân giúp phòng bệnh tay chân miệng hiệu quả

2. Giữ vệ sinh ăn uống

Thức ăn cho trẻ và gia đình cần đầy đủ dinh dưỡng, ăn chín, uống chín. Những vật dụng trong nhà bếp cần được rửa sạch trước khi dùng. Tuyệt đối không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm đồ chơi, không cho trẻ dùng chung khăn ăn, vật dụng ăn uống chưa được khử trùng.

3. Làm sạch đồ chơi, nơi sinh hoạt

Nhà trẻ, trường học và hộ gia đình cần thường xuyên vệ sinh sạch sẽ những bề mặt tiếp xúc hàng ngày như bàn ghế, đồ chơi, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, dụng cụ học tập bằng xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường.

4. Theo dõi và phát hiện sớm

Tình trạng sức khỏe của trẻ cần được theo dõi thường xuyên để kịp thời phát hiện và điều trị các trường hợp bệnh tay chân miệng, tránh lây nhiễm cho những trẻ khác.

Theo dõi và phát hiện sớm các trường hợp bệnh tay chân miệng để hạn chế lây lan

5. Cách ly và điều trị kịp thời khi mắc bệnh

Các hộ gia đình, nhà trẻ có trẻ dưới 6 tuổi cần chủ động theo dõi sức khỏe để kịp thời phát hiện và đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Khi trẻ bệnh cần cách ly ít nhất 10 ngày kể từ khi bệnh khởi phát, không nên cho trẻ có những biểu hiện của bệnh tay chân miệng đến lớp chơi với những trẻ khác. Cần thực hiện khử khuẩn lớp học, nhà ở, đồ chơi, bề mặt các vật dụng… khi phát hiện có trẻ bị tay chân miệng để tránh lây nhiễm cho các trẻ khác trong lớp và trong gia đình.

Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm có khả năng lây lan nhanh chóng và tỷ lệ tử vong cao. Vì vẫn chưa có vacxin ngừa tay chân miệng, nên người dân cần chủ động phòng ngừa và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của thân nhân để kịp thời phát hiện và điều trị khi mắc bệnh.

Trần Phúc