Phân thùy gan bằng cách nào? Vai trò cụ thể

17:23 19/12/2025

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Phân thùy gan là bước quan trọng trong việc hiểu rõ cấu trúc giải phẫu của gan, cơ quan lớn nhất và đảm nhiệm nhiều chức năng của cơ thể như chuyển hóa, giải độc, sản xuất mật. Việc phân chia gan thành các thùy và phân thùy dựa trên hệ thống mạch máu và đường mật không chỉ giúp bác sĩ đánh giá chính xác tổn thương mà còn đóng vai trò quyết định trong phẫu thuật cắt gan và chẩn đoán hình ảnh.

| BS Lê Thị Minh Nguyệt - Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC cho biết: “Gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể, nặng khoảng 1,2 - 1,8kg tùy giới tính và chứa thêm gần 1 lít máu. Với kích thước lớn và đảm nhiệm nhiều chức năng sống còn, gan rất dễ bị tổn thương nếu tiếp xúc lâu dài với các tác nhân như virus viêm gan, rượu, thuốc, hay gan nhiễm mỡ. Vì vậy, để phòng ngừa viêm gan, xơ gan và ung thư gan, cả trẻ em và người lớn đều nên tiêm vắc xin viêm gan đầy đủ và đúng lịch”. |
Phân thùy gan là gì?
Phân thùy gan là cách chia gan thành những đơn vị giải phẫu - chức năng nhỏ hơn, dựa trên hệ thống mạch máu và đường mật bên trong gan, chứ không dựa vào sự phân chia bên ngoài như thùy phải hay thùy trái.
Mỗi phân thùy hoạt động gần như một đơn vị độc lập, có động mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật riêng. Nhờ cấu trúc này, bác sĩ có thể cắt bỏ từng phần gan bị tổn thương mà không ảnh hưởng nhiều đến phần gan còn lại, vì hệ thống mạch máu và dẫn lưu mật của các phân thùy không liên quan nhau.
Những phương pháp phân chia thùy gan
Việc phân chia thùy gan đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử y học, từ cách phân chia theo vùng chức năng đến giải phẫu qua các mạch máu lân cận.
1. Phân thùy gan theo giải phẫu cổ điển
Phân thùy gan theo giải phẫu cổ điển, hay còn gọi là phân chia gan theo mốc giải phẫu, dựa chủ yếu vào các dây chằng và rãnh tự nhiên trên bề mặt gan. Ở mặt trên, gan được dây chằng liềm chia thành 2 thùy chính là thùy phải và thùy trái. Ở mặt dưới, hệ thống rãnh hình chữ H tiếp tục chia gan thành 4 thùy, bao gồm thùy phải, thùy trái, thùy vuông và thùy đuôi.
- Thùy phải: Lớn gấp 6 lần thùy trái, nằm ở hạ sườn phải. Ở mặt sau, thùy phải được giới hạn bởi dây chằng tĩnh mạch (ligamentum venosum) ở nửa trên và dây chằng tròn gan (ligamentum teres hepatis) ở nửa dưới. Dây chằng tròn gan vòng quanh bờ dưới của gan và đi ra phía bụng trong dây chằng liềm.
- Thùy trái: Thùy trái nhỏ và mỏng hơn, nằm ở vùng thượng vị và hạ sườn trái. Mặt trên của thùy trái tiếp xúc sát với cơ hoành. Mặt dưới có vết ấn của dạ dày và củ mạc nối, phản ánh các cấu trúc lân cận.
- Thùy vuông: Thùy vuông là vùng gan nằm ở mặt dưới của phân thùy trái trong (phân thùy Couinaud IVb), được giới hạn ở phía trước bởi bờ trước của gan, phía sau bởi cửa gan, bên phải bởi hố túi mật và bên trái bởi hố tĩnh mạch rốn. Nó có hình thuôn dài, đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang.
- Thùy đuôi: Thùy đuôi (tương ứng đoạn I của gan) nằm ở mặt sau trên của gan, thuộc vùng thùy phải. Nó nằm đối diện với đốt sống ngực thứ 10 và 11. (1)

2. Phân chia thùy gan theo Couinaud
Bác sĩ phẫu thuật và nhà giải phẫu học người Pháp Claude Couinaud là người đầu tiên chia gan thành 8 phân thùy độc lập về mặt chức năng, cho phép cắt bỏ các phân thùy mà không làm tổn thương các phân thùy khác. Mỗi phân thùy có mạch máu vào, ra và dẫn lưu mật riêng.
Khi bệnh nhân nằm ngửa và gan được xoay theo hướng bờ dưới hướng lên cơ hoành, các phân thùy được đánh số theo chiều ngược kim đồng hồ quanh cửa gan. Mô tả các phân thùy theo Couinaud như sau:
- Phân thùy I - Thùy đuôi: Nằm ở phần sau trên, thuộc khu vực trung tâm bên trái của gan.
- Phân thùy II: Nằm ở vùng sau - trên của tĩnh mạch gan trái.
- Phân thùy III: Nằm ở vùng trước - dưới của tĩnh mạch gan trái.
- Phân thùy IV: Bao gồm toàn bộ vùng gan giữa của thùy trái và thùy vuông. Phân thùy này được chia nhỏ hơn nữa thành các hạ phân thùy là IVa và IVb. IVa nằm ở phía trên và IVb nằm ở phần dưới, tương ứng với thùy vuông trong giải phẫu cổ điển.
- Phân thùy V: Tạo thành phần dưới của vùng gan giữa bên phải.
- Phân thùy VI: Là phần dưới của tĩnh mạch gan phải.
- Phân thùy VII: Nằm ở phần trên - ngoài của tĩnh mạch gan phải.
- Phân thùy VIII: Nằm ở phần trên của vùng gan giữa bên phải, giữa tĩnh mạch gan giữa và tĩnh mạch gan phải. (2)
Đường Cantlie là một đường phẳng thẳng đứng, chia gan thành hai thùy là thùy trái và thủy phải, tạo thành mặt phẳng chính và được sử dụng trong phẫu thuật cắt gan. Đường Cantlie kéo dài từ tĩnh mạch chủ dưới ở phía sau đến giữa hố túi mật ở phía trước, chứa tĩnh mạch gan giữa, chia gan thành thùy trái, thùy phải theo phân vùng chức năng của Couinaud. Các phân thùy 2, 3, 4a và 4b nằm bên trái mặt phẳng, còn các phân thùy 5, 6, 7 và 8 nằm bên phải. (3)
3. Phân chia thùy gan theo giáo sư Tôn Thất Tùng
Theo giáo sư Tôn Thất Tùng, gan được chia thành 2 thùy chính (thùy phải và thùy trái) và 5 phân thùy chức năng, bao gồm phân thùy trước, phân thùy sau, phân thùy giữa, phân thùy bên và phân thùy lưng. Trong đó, phân thùy lưng chính là thùy đuôi hay hạ phân thùy I. Gan chỉ có 6 hạ phân thùy thực sự: II, III, V, VI, VII, VIII. Phân thùy giữa tương ứng với hạ phân thùy IV (thùy vuông trong giải phẫu cổ điển).
Trừ phân thùy đuôi và phân thùy giữa của gan trái, các phân thùy còn lại được tách bởi một mặt phẳng ngang đi qua hai nhánh trái và phải của tĩnh mạch cửa, từ đó tạo thành các hạ phân thùy như sau:
- Phân thùy bên của gan trái: Được nhánh trái tĩnh mạch cửa chia thành hạ phân thùy II (phía trên) và hạ phân thùy III (phía dưới).
- Phân thùy trước của gan phải: Được nhánh phải tĩnh mạch cửa chia thành hạ phân thùy VIII (phía trên) và hạ phân thùy V (phía dưới).
- Phân thùy sau của gan phải: Được nhánh phải tĩnh mạch cửa chia thành hạ phân thùy VII (phía trên) và hạ phân thùy VI (phía dưới).
- Thùy đuôi tương ứng hạ phân thùy I.
- Phân thùy giữa của gan trái tương ứng hạ phân thùy IV.

4. Phân chia thùy gan theo Goldsmith và Woodburne
Goldsmith và Woodburne phân chia thùy gan dựa trên đường đi của 3 nhánh chính trong hệ tĩnh mạch gan, từ đó chia gan thành 2 thùy và 5 phân thùy giải phẫu. Cụ thể:
- Tĩnh mạch gan giữa: Chạy giữa gan, đóng vai trò đường ranh giới, chia gan thành thùy trái và thùy phải.
- Tĩnh mạch gan phải: Chia phần gan phải thành hai phân thùy là phân thùy trước và phân thùy sau.
- Tĩnh mạch gan trái: Chia phần gan trái thành hai phân thùy là phân thùy giữa và phân thùy bên.
- Thùy đuôi: Là một đơn vị độc lập, vì hệ tĩnh mạch của nó đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới, không phụ thuộc vào các tĩnh mạch gan còn lại. (4)
5. Phân chia gan theo quan điểm hiện đại
Theo quan điểm hiện nay, dựa vào sự phân bố đường mạch mật, gan được phân chia bởi các khe ảo sau:
- Khe giữa gan hay khe chính: Ở mặt trên gan là đường nối từ bờ trái tĩnh mạch chủ dưới tới giữa khuyết túi mật. Ở mặt dưới là đường nối từ giữa hố túi mật đến bờ trái tĩnh mạch chủ dưới. Khe có tĩnh mạch gan giữa và chia gan thành 2 nửa phải, trái.
- Khe bên phải hay khe liên phân thùy phải: Đi từ bờ phải của tĩnh mạch chủ dưới, dọc theo lá trên của dây chằng vành, rồi vòng xuống song song với bờ gan phải và cách bờ này ba thoát ngón tay. Khe này chia nửa gan phải thành hai phân thùy là phân thùy trước và phân thùy sau.
- Khe bên trái hay khe liên phân thùy trái: Ở mặt trên gan khe là chỗ bám của dây chằng liềm, ở mặt dưới khe tương ứng với rãnh dọc trái. Khe này chia gan trái thành 2 phân thùy là phân thùy giữa và phân thùy bên.
- Khe phụ giữa thùy phải: Thường không rõ ràng, chia phân thùy trước thành hạ phân thùy V và VIII và phân thùy sau thành hạ phân thùy VI và VII.
- Khe phụ giữa thùy trái: Ở mặt hoành đi từ bờ trái của tĩnh mạch chủ dưới đến 1/3 sau và 2/3 trước bờ dưới của gan trái. Ở mặt tạng, đi từ đầu trái cửa gan đến nối 1/3 sau và 2/3 trước bờ dưới của gan trái. Khe này chia phân thùy bên thành hạ phân thùy II và III. Hạ phân thùy I tương ứng với thùy đuôi. (5)
Ý nghĩa và vai trò của phân thùy gan trong chẩn đoán và điều trị
Phân thùy gan có vai trò vô cùng quan trọng, mang ý nghĩa nền tảng trong cả chẩn đoán và điều trị các bệnh lý về gan mật.
1. Hỗ trợ trong chẩn đoán hình ảnh
Việc nắm rõ cấu trúc phân thùy của gan giúp bác sĩ mô tả chính xác vị trí tổn thương trên siêu âm, CT hay MRI. Mỗi hạ phân thùy tương ứng với nguồn máu và đường mật riêng, vì vậy xác định đúng vị trí sẽ hỗ trợ đánh giá mức độ lan rộng của u gan, áp xe gan, tổn thương mạch máu, tắc mật… Đồng thời, phân thùy của gan là ngôn ngữ chung giúp các bác sĩ trao đổi thông tin lâm sàng rõ ràng và thống nhất.
Ngoài việc xác định phân thùy, trong một số bệnh lý gan lan tỏa hoặc rối loạn chuyển hóa, các chuyên gia còn cần hiểu rõ cấu trúc của tiểu thùy gan để đánh giá mức độ tổn thương ở cấp độ vi mô.
2. Phục vụ cho quá trình phẫu thuật
Giải phẫu phân thùy gan mang ý nghĩa quan trọng trong phẫu thuật gan vì mỗi phân thùy là một đơn vị hoạt động độc lập. Hiểu rõ ranh giới phân thùy cho phép phẫu thuật viên:
- Cắt bỏ chọn lọc phần gan bệnh mà vẫn bảo tồn tối đa nhu mô lành.
- Giảm mất máu nhờ cắt theo đúng mặt phẳng vô mạch tự nhiên.
- Lựa chọn chiến lược phẫu thuật phù hợp trong u gan, chấn thương gan, phẫu thuật ghép gan hoặc cắt gan theo phân thùy.
3. Mối liên hệ của một số bệnh lý gan theo phân thùy
Nhiều bệnh lý có thể ảnh hưởng đến từng thùy gan và làm suy giảm chức năng gan nếu không được phát hiện sớm:
- Viêm gan là tình trạng viêm nhu mô gan do virus, rượu hoặc độc chất, có thể gây tổn thương kéo dài và tiến triển thành xơ gan nếu không điều trị đúng cách.
- Gan nhiễm mỡ xảy ra khi mỡ tích tụ quá mức trong tế bào gan. Giai đoạn nặng có thể dẫn đến viêm gan do mỡ, hình thành mô sẹo và cuối cùng gây xơ gan.
- Xơ gan là hậu quả của quá trình tổn thương gan mạn tính, trong đó mô sẹo thay thế tế bào gan khỏe mạnh, làm suy giảm chức năng gan và có thể tiến triển đến suy gan.
- Ung thư gan (đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào gan - HCC) thường xuất hiện nhiều ở thùy gan phải, nơi có hoạt động chuyển hóa và lưu lượng máu từ tĩnh mạch cửa cao hơn.
- Bệnh lý đường mật như tắc nghẽn ống mật, sỏi mật hoặc hẹp đường mật có thể gây ứ mật, ảnh hưởng rõ rệt đến thùy gan và làm rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu chất béo.

Câu hỏi thường gặp
Ngoài các thông tin trên, chắc hẳn vẫn còn nhiều người còn nhiều câu hỏi xoay quanh về giải phẫu gan cũng như phân thùy của gan. Dưới đây là những câu hỏi thường gặp:
- Tại sao phân chia thùy gan phải lại lớn hơn thùy gan trái?
Thùy gan phải là phần có kích thước lớn nhất của gan do đặc điểm giải phẫu, vị trí và phân bố mạch máu:
-
- Vị trí giải phẫu thuận lợi: Gan nằm lệch sang phải khoang bụng - nơi không bị tim che khuất như bên trái. Khoảng trống lớn dưới cơ hoành phải tạo điều kiện để thùy phải phát triển lớn hơn.
- Phân bố mạch máu - mật: Nhánh phải của tĩnh mạch cửa và động mạch gan thường to và tưới máu cho vùng nhu mô rộng hơn. Điều này giúp thùy phải đảm nhận nhiều chức năng chuyển hóa hơn.
- Vai trò chuyển hóa nổi bật: Thùy gan phải tiếp nhận phần lớn chất dinh dưỡng từ ruột non thông qua tĩnh mạch cửa. Do đó, nó tham gia mạnh mẽ vào chuyển hóa đường, đạm, mỡ, khử độc và phân hủy thuốc, lọc các chất độc hại, dự trữ vitamin và khoáng chất.
Vì đảm nhận nhiều hoạt động chuyển hóa, thùy gan phải cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các bệnh lý như viêm gan, áp xe gan, gan nhiễm mỡ, xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan.
- Các thùy gan có tái tạo được không?
Gan là cơ quan duy nhất trong cơ thể có khả năng tự tái tạo đặc biệt mạnh mẽ. Ngay cả khi bị cắt bỏ tới 90% khối lượng, phần gan còn lại vẫn có thể phát triển trở lại gần bằng kích thước ban đầu sau vài tuần đến vài tháng. Quá trình này diễn ra nhờ sự tăng sinh và phì đại của tế bào gan, giúp phục hồi chức năng thiết yếu của cơ quan.
Tuy nhiên, khả năng tái tạo này không phải vô hạn. Gan có thể bị tổn thương nặng nề và không hồi phục nếu tiếp xúc kéo dài với các tác nhân gây hại như viêm gan virus, viêm gan do rượu thuốc, ung thư gan, gan nhiễm mỡ tiến triển… Khi tổn thương vượt quá khả năng tái tạo, gan suy yếu dần và dẫn đến suy gan.

Việc phân thùy gan thành các phân thùy nhỏ không chỉ giúp bác sĩ định vị chính xác tổn thương trên hình ảnh chẩn đoán mà còn đóng vai trò quan trọng trong phẫu thuật và điều trị bệnh lý gan. Hiểu rõ cấu trúc phân thùy giúp tối ưu hóa kế hoạch cắt gan, ghép gan và can thiệp xâm lấn, đồng thời giảm thiểu rủi ro cho người bệnh.
- Wikipedia contributors. (n.d.). Lobes of liver – Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/Lobes_of_liver
- Oliveira, D. A., Feitosa, R. Q., & Correia, M. M. (2011). Segmentation of liver, its vessels and lesions from CT images for surgical planning. BioMedical Engineering OnLine, 10(1), 30. https://doi.org/10.1186/1475-925x-10-30
- Hacking, C., & Mudgal, P. (2014). Cantlie line. Radiopaedia.org. https://doi.org/10.53347/rid-28133
- Rutkauskas, S., Gedrimas, V., Pundzius, J., & Basevicius, A. (2006). Clinical and anatomical basis for the classification of the structural parts of liver. ResearchGate. https://www.researchgate.net/publication/7250588_Clinical_and_anatomical_basis_for_the_classification_of_the_structural_parts_of_liver
- Functional division of the liver. (2023, October 30). Kenhub. https://www.kenhub.com/en/library/anatomy/functional-division-of-the-liver







