8 yếu tố khiến HPV tiến triển ung thư cao hơn mà phụ nữ cần đặc biệt lưu ý

Nguy cơ HPV tiến triển thành ung thư sẽ tăng cao khi tồn tại các yếu tố nguy cơ như hệ miễn dịch suy yếu, hút thuốc hoặc thường xuyên hít phải khói thuốc lá thụ động, quan hệ tình dục sớm hoặc có nhiều bạn tình, tiền sử sinh nhiều con hoặc mang thai nhiều lần, không tầm soát định kỳ và chưa tiêm vắc xin phòng HPV. Nhận diện sớm các yếu tố này giúp phụ nữ chủ động phòng ngừa, giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung - một trong những bệnh ung thư phổ biến và có thể phòng ngừa hiệu quả nếu được kiểm soát đúng cách.

phụ nữ lo lắng sợ bị nhiễm hpv

Bác sĩ Phạm Đình Đông, Quản lý Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết HPV là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất, với khoảng 84% phụ nữ và 91% nam giới có thể nhiễm ít nhất một lần trong đời. Phần lớn các trường hợp sẽ tự khỏi trong 1 - 2 năm nhờ hệ miễn dịch và không gây ung thư.

Tuy nhiên, nếu nhiễm các tuýp HPV nguy cơ cao như HPV 16 , HPV 18 và virus tồn tại dai dẳng, tế bào có thể bị biến đổi thành tiền ung thư rồi tiến triển thành ung thư, đặc biệt ở cổ tử cung. Khoảng 10% phụ nữ nhiễm HPV cổ tử cung sẽ bị nhiễm kéo dài, làm tăng nguy cơ ung thư; nguy cơ này cũng có thể xảy ra ở âm hộ, âm đạo, dương vật hoặc hậu môn nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. (1)

Nhiều yếu tố có thể khiến HPV tồn tại dai dẳng trong cơ thể, tiếp tục hoạt động và làm gia tăng nguy cơ tiến triển thành ung thư. Dưới đây là những yếu tố quan trọng được các chuyên gia y tế cảnh báo phụ nữ cần đặc biệt lưu ý:

  • Loại HPV mắc phải

Loại HPV mắc phải là yếu tố quan trọng quyết định nguy cơ tiến triển thành ung thư. Theo Bác sĩ Đông, một số chủng HPV được xếp vào nhóm nguy cơ cao, gồm các tuýp 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59 và 66, có khả năng gây ung thư ở nhiều cơ quan như cổ tử cung, hậu môn, hầu họng, âm hộ và dương vật.

Trong đó, HPV 16 và 18 nguy hiểm nhất, chiếm khoảng 70% các ca ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới. Nghiên cứu cho thấy phụ nữ nhiễm HPV 16 có nguy cơ phát triển tổn thương tiền ung thư cổ tử cung nặng trong vòng 3 năm khoảng 10,6%, còn với HPV 18 là 5,9%, cao hơn nhiều so với những người không nhiễm hai tuýp virus này.

Ngược lại, nhóm HPV nguy cơ thấp như 6, 11, 40, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72 và 81 thường chỉ gây mụn cóc sinh dục hoặc tổn thương lành tính, rất hiếm khi dẫn đến ung thư. Trong nhóm này, HPV 6 và 11 là hai tuýp phổ biến nhất, chủ yếu gây sùi mào gà. (2)

phụ nữ bị đau cổ tử cung
Nhiễm HPV nguy cơ cao, đặc biệt là các tuýp 16 và 18, làm tăng đáng kể nguy cơ tiến triển thành các tổn thương tiền ung thư và ung thư nếu không được phát hiện và theo dõi kịp thời.
  • Không tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ

Theo Bác sĩ Đông, các tổn thương tiền ung thư có thể phát triển âm thầm trong nhiều năm trước khi trở thành ung thư thực sự. Nếu được phát hiện sớm qua các xét nghiệm như Pap smear hoặc xét nghiệm HPV DNA, những tổn thương này hoàn toàn có thể được điều trị hiệu quả. Thực tế cho thấy phần lớn trường hợp ung thư cổ tử cung được phát hiện ở giai đoạn muộn thường rơi vào nhóm phụ nữ chưa từng tầm soát hoặc tầm soát không đều đặn.

  • Hệ miễn dịch suy yếu

Hệ miễn dịch suy yếu là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ ung thư liên quan đến HPV. Những người có hệ miễn dịch suy giảm như người nhiễm HIV, bệnh nhân ghép tạng hoặc đang điều trị ức chế miễn dịch dễ gặp các tổn thương tiền ung thư và ung thư do HPV hơn so với người khỏe mạnh.

Ở người có miễn dịch bình thường, phần lớn trường hợp nhiễm HPV sẽ được cơ thể tự đào thải. Tuy nhiên, khi hệ miễn dịch suy yếu, virus có thể tồn tại lâu trong cơ thể, gây các tổn thương tiền ung thư mức độ cao và làm tăng nguy cơ tiến triển thành ung thư.

Thực tế cho thấy, tiên lượng bệnh ở nhóm này cũng kém hơn. Chẳng hạn, phụ nữ nhiễm HIV mắc ung thư cổ tử cung chỉ có tỷ lệ sống sau 3 năm khoảng 35%, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của ung thư biểu mô tế bào vảy hậu môn là 47%.

  • Hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc lá thụ động.

Khói thuốc lá được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp vào nhóm chất gây ung thư loại A, chứa hơn 4.500 hóa chất, trong đó có ít nhất 70 chất gây ung thư đã được xác định ở người. Việc sử dụng hoặc hít phải khói thuốc có liên quan chặt chẽ đến sự tiến triển của nhiễm HPV nguy cơ cao thành ung thư biểu mô tế bào vảy và các tổn thương tiền ung thư tại vùng đầu - cổ, cổ tử cung, hậu môn và dương vật.

Các nghiên cứu cho thấy phụ nữ vừa nhiễm HPV nguy cơ cao vừa hút thuốc có nguy cơ xuất hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung và ung thư cao hơn so với người không hút thuốc. Khói thuốc có thể gây tổn thương DNA của tế bào cổ tử cung và đồng thời làm suy yếu khả năng miễn dịch, khiến cơ thể khó kiểm soát và đào thải virus HPV.

Ngoài ra, một số chất độc trong khói thuốc như benzo[a]pyrene (BaP) còn được phát hiện trong chất nhầy cổ tử cung của người hút thuốc. Chất này có thể kích thích HPV nhân lên mạnh hơn, làm tăng tải lượng virus và thúc đẩy quá trình tiến triển từ nhiễm HPV sang tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư.

  • Yếu tố sinh sản

Số lần sinh con nhiều được xem là một yếu tố có thể góp phần vào cơ chế bệnh sinh của các ung thư liên quan đến HPV. Năm 2002, một nghiên cứu đối chứng đa trung tâm do Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế thực hiện đã ghi nhận mối liên hệ thuận chiều giữa số lần mang thai đủ tháng và nguy cơ xuất hiện ung thư biểu mô tế bào vảy liên quan đến HPV, trong khi không ghi nhận mối liên quan rõ ràng với ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô tuyến vảy.

Tương tự, một phân tích tổng hợp năm 2022 trên 6.685 phụ nữ từng sinh con cho thấy nguy cơ phát triển tổn thương ung thư cao hơn 2,65 lần so với nhóm chưa từng sinh. Các giả thuyết hiện nay cho rằng nồng độ progesterone và estrogen tăng cao vào cuối thai kỳ có thể làm thay đổi cấu trúc vùng chuyển tiếp giữa biểu mô vảy và biểu mô trụ ở cổ tử cung, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sinh ung thư của HPV.

  • Quan hệ tình dục sớm và có nhiều bạn tình

Quan hệ tình dục sớm được định nghĩa là lần quan hệ đầu tiên ở tuổi 19 hoặc trẻ hơn; có nhiều bạn tình là từ 3 bạn tình trở lên trong đời. Đây là những yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HPV nguy cơ cao, đặc biệt là HPV 16 và 18, hai tuýp liên quan chặt chẽ đến ung thư cổ tử cung.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ quan hệ tình dục lần đầu ở độ tuổi càng trẻ thì nguy cơ nhiễm HPV nguy cơ cao và mắc bệnh lý cổ tử cung nghiêm trọng càng cao. Đáng chú ý, những người quan hệ trước 16 tuổi có nguy cơ nhiễm HPV 16 cao gấp đôi so với người quan hệ lần đầu ở độ tuổi lớn hơn. Lý do, niêm mạc cổ tử cung ở tuổi vị thành niên còn đang phát triển nên dễ bị tổn thương hơn khi tiếp xúc với virus.

Bên cạnh đó, số lượng bạn tình cũng có mối liên quan tỷ lệ thuận với nguy cơ nhiễm HPV. Một nghiên cứu trên phụ nữ trẻ Nauy ghi nhận nguy cơ nhiễm HPV tuýp 16 tăng lần lượt 1,78 lần; 2,70 lần và 5,71 lần ở nhóm có 3 - 4, 5 - 9 và trên 10 bạn tình. Với HPV 18, nguy cơ tương ứng tăng 2,44 lần; 4,08 lần và 7,31 lần. Kết quả này phù hợp với nhiều báo cáo trước đó, cho thấy phụ nữ có từ ba bạn tình trở lên có nguy cơ nhiễm HPV 16/18 cao gấp đôi so với nhóm có ít bạn tình hơn.

ảnh hưởng sinh hoạt vợ chồng
Quan hệ tình dục quá sớm hoặc có nhiều bạn tình làm gia tăng nguy cơ nhiễm HPV nguy cơ cao, từ đó làm tăng khả năng phát triển các bệnh ung thư liên quan đến HPV nếu không được phòng ngừa và tầm soát phù hợp.
  • Sinh nhiều con hoặc mang thai nhiều lần

Bác sĩ Đông còn cho biết thêm, phụ nữ sinh nhiều con có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn so với người sinh ít hoặc chưa sinh con. Nguyên nhân có thể liên quan đến việc thay đổi hormone kéo dài trong thai kỳ, tổn thương cổ tử cung trong quá trình sinh nở hoặc sự thay đổi miễn dịch khi mang thai. Những yếu tố này có thể tạo điều kiện cho HPV tồn tại lâu hơn trong cơ thể và làm tăng nguy cơ biến đổi tế bào.

  • Chưa tiêm vắc xin phòng HPV

Một trong những yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung là chưa tiêm vắc xin phòng HPV. Vắc xin HPV giúp cơ thể tạo miễn dịch chống lại các chủng virus nguy cơ cao gây ung thư. Các chương trình tiêm chủng HPV tại nhiều quốc gia đã giúp giảm mạnh tỷ lệ nhiễm HPV và tổn thương tiền ung thư ở phụ nữ trẻ.

Vắc xin HPV có thể phòng ngừa phần lớn các trường hợp ung thư cổ tử cung, đồng thời giảm nguy cơ nhiều bệnh ung thư khác liên quan đến HPV. Do đó, Bác sĩ Đông nhấn mạnh mỗi người cần chủ động phòng bệnh từ sớm bằng lối sống an toàn, khám tầm soát định kỳ và đặc biệt là tiêm vắc xin phòng HPV đầy đủ, đúng lịch, ưu tiên bảo vệ trước các tuýp nguy cơ cao như HPV 16 và 18.

Hiện nay, VNVC cung ứng đầy đủ số lượng lớn vắc xin phòng HPV cho trẻ em và phụ nữ, với hiệu quả bảo vệ lên đến 90% đối với các bệnh do HPV gây ra. Đáng chú ý, VNVC đang triển khai ưu đãi 50.000 đồng khi tiêm vắc xin Gardasil 9 (Mỹ); đăng ký combo trọn gói theo phác đồ còn giúp tiết kiệm lên đến 150.000 đồng.

Tên vắc xin Phòng các tuýp HPV Độ tuổi Lịch tiêm Đăng ký tiêm
Gardasil (Mỹ) 6, 11, 16, 18 Trẻ em gái và phụ nữ trong độ tuổi từ 9 - 26 tuổi. Bé gái từ 9 tuổi đến dưới 14 tuổi

Phác đồ 2 mũi:

  • Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên
  • Mũi 2: Cách mũi 1 từ 6 - 12 tháng

Phác đồ 3 mũi:

  • Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên
  • Mũi 2: Cách mũi 1 ít nhất 2 tháng
  • Mũi 3: Cách mũi 2 ít nhất 4 tháng

Bé gái từ 14 tuổi và phụ nữ đến 26 tuổi

Phác đồ 3 mũi:

  • Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên
  • Mũi 2: Cách mũi 1 ít nhất 2 tháng
  • Mũi 3: Cách mũi 2 ít nhất 4 tháng
Click đăng ký
Gardasil 9 (Mỹ) 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58 Tiêm chủng cho cả nam giới và nữ giới, từ 9 đến 45 tuổi. Người từ tròn 9 tuổi đến dưới 15 tuổi tại thời điểm tiêm lần đầu tiên:

Phác đồ 2 mũi:

  • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi
  • Mũi 2: cách mũi 1 từ 6 - 12 tháng.
  • Nếu mũi 2 tiêm cách mũi 1 < 5 tháng, cần tiêm mũi 3 cách mũi 2 ít nhất 3 tháng.

Phác đồ 3 mũi (0 - 2 - 6):

  • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi
  • Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 2 tháng
  • Mũi 3: cách mũi 2 ít nhất 4 tháng

Người từ tròn 15 - 45 tuổi

Phác đồ 3 mũi (0 - 2 - 6):

  • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi
  • Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 2 tháng
  • Mũi 3: cách mũi 2 ít nhất 4 tháng.
Click đăng ký
tiêm vắc xin hpv phòng ngừa
Tiêm vắc xin HPV đầy đủ và đúng lịch là biện pháp chủ động, hiệu quả giúp phụ nữ giảm nguy cơ nhiễm HPV, đặc biệt là các tuýp nguy cơ cao, qua đó hạn chế nguy cơ tiến triển thành các tổn thương tiền ung thư và ung thư.

Để được tư vấn về tiêm vắc xin hoặc đặt mua vắc xin tại VNVC, Quý khách hàng có thể liên hệ theo các cách sau:

Đặt mua các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng chính hãng, chất lượng cao từ các thương hiệu uy tín hàng đầu quốc tế như Nestlé Health Science (Thụy Sĩ), Asahi - Wakodo (Nhật Bản), Ecogreen (sản xuất tại Mỹ) với giá ưu đãi tại VNVC SHOP TẠI ĐÂY.

09:29 09/03/2026
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. CDC. (2025, February 3). Basic Information about HPV and Cancer. Cancer. https://www.cdc.gov/cancer/hpv/basic-information.html
  2. Hewavisenti, R. V., Arena, J., Ahlenstiel, C. L., & Sasson, S. C. (2023). Human papillomavirus in the setting of immunodeficiency: Pathogenesis and the emergence of next-generation therapies to reduce the high associated cancer risk. Frontiers in Immunology14. https://doi.org/10.3389/fimmu.2023.1112513

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ