Vắc xin Tdap và DTaP khác nhau như thế nào?

Vắc xin Tdap và DTaP đều là những vắc xin quan trọng, có tác dụng phòng 3 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là bạch hầu, ho gà, uốn ván. Tuy cùng nhóm vắc xin nhưng hai loại này khác nhau về đối tượng tiêm, thời điểm tiêm, mục đích sử dụng.... Vì vậy, phụ huynh cần hiểu rõ để lựa chọn loại phù hợp cho từng lứa tuổi và đảm bảo hiệu quả bảo vệ tối ưu.

BS Phạm Văn Phú - Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: Một liệu trình 3 liều cơ bản của giải độc tố bạch hầu và uốn ván đạt hiệu quả lần lượt khoảng 95% và 100%. Thành phần ho gà vô bào trong vắc xin DTaP có hiệu quả khoảng 84% trong 3 năm đầu sau tiêm. Ở người lớn, đáp ứng kháng thể sau 1 liều Tdap tương đương với trẻ sơ sinh sau 3 liều DTaP. Trẻ sinh từ mẹ được tiêm Tdap trong thai kỳ có mức kháng thể ho gà bằng 50 - 100% của mẹ lúc sinh, dù miễn dịch thụ động này giảm nhanh chóng”. (1)

vắc xin tdap và dtap

Vắc xin Tdap và DTaP là gì?

Tdap và DTaP là vắc xin bất hoạt, được tiêm theo liệu trình cơ bản để chống lại các bệnh nguy hiểm như bạch hầu, ho gà, uốn ván. Cụ thể:

1. Vắc xin Tdap

Vắc xin Tdap là loại vắc xin tăng cường, được tiêm cho thanh thiếu niên và người lớn để bảo vệ khỏi bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà. Vắc xin có thể tiêm cho phụ nữ mang thai để bảo vệ trẻ khi chào đời.

Mặc dù phòng ngừa các bệnh tương tự DTaP nhưng Tdap chứa hàm lượng kháng nguyên bạch hầu thấp hơn (bạch hầu liều thấp), thường để tiêm lần đầu cho người lớn hoặc dùng để tiêm nhắc lại nhắc lại mỗi 10 năm để duy trì khả năng bảo vệ.

2. Vắc xin DTaP

Vắc xin DTaP được sử dụng cho trẻ từ 6 tuần tuổi đến dưới 7 tuổi, giúp phòng ba bệnh nguy hiểm bạch hầu, ho gà và uốn ván với hàm lượng kháng nguyên bạch hầu cao (bạch hầu liều cao). Vắc xin này chứa các độc tố của vi khuẩn đã được bất hoạt, tức là không còn khả năng gây bệnh nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc để kích thích cơ thể tạo kháng thể. Nhờ đó, trẻ hình thành miễn dịch chủ động và được bảo vệ hiệu quả trước các bệnh trên.

tiêm vắc xin cho bé gái
Vắc xin DTaP và Tdap là vắc xin bất hoạt, có tác dụng chống lại các bệnh nguy hiểm như bạch hầu, ho gà, uốn ván.

So sánh điểm giống và khác nhau giữa vắc xin Tdap và DTaP

Vắc xin phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván Tdap và DTaP sẽ có những điểm giống và khác nhau như sau:

Giống nhau:

Vắc xin Tdap và DTaP đều thuộc nhóm vắc xin phối hợp, kết hợp nhiều thành phần trong một mũi tiêm để tạo miễn dịch toàn diện. Cả hai loại vắc xin này đều có chung mục đích bảo vệ cơ thể khỏi ba bệnh nguy hiểm:

  • Uốn ván: Gây co cứng, co rút đau đớn các cơ, có thể ảnh hưởng đến cơ hô hấp và đe dọa tính mạng.
  • Bạch hầu: Dễ gây khó thở, biến chứng tim mạch và có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời.
  • Ho gà: Do vi khuẩn ho gà (Bordetella pertussis) gây ra, có thể gây các cơn ho dữ dội kéo dài, đặc biệt nguy hiểm với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Khác nhau:

Với Tdap và DTaP, khi chữ cái viết hoa, điều đó cho thấy vắc xin chứa hàm lượng kháng nguyên cao để tạo miễn dịch mạnh. Ngược lại, chữ viết thường biểu thị liều lượng thấp hơn của thành phần đó.

  • DTaP là vắc xin có liều đầy đủ của ba thành phần: bạch hầu (D), uốn ván (T) và ho gà vô bào (aP).
  • Tdap vẫn chứa liều uốn ván đầy đủ (T) nhưng liều bạch hầu (d) và ho gà vô bào (ap) được giảm xuống, phù hợp cho liều tăng cường ở người lớn và trẻ lớn.

Ngoài ra, vắc xin Tdap và DTaP có những điểm khác nhau như:

Đặc điểm Tdap DTaP

Hàm lượng kháng nguyên

Liều kháng nguyên thấp hơn, đặc biệt là thành phần ho gà. Tdap được dùng như liều nhắc lại.

Liều kháng nguyên cao hơn, dùng để tạo miễn dịch cơ bản cho trẻ nhỏ.

Đối tượng tiêm

Tiêm cho thanh thiếu niên, phụ nữ mang thai và người lớn.

Tiêm cho trẻ dưới 7 tuổi.

Mục đích sử dụng

Tiêm nhắc lại miễn dịch đã có, giúp duy trì bảo vệ.

Tiêm cơ bản cho trẻ nhỏ để hình thành nền miễn dịch ban đầu.

Tên vắc xin

Các loại vắc xin Tdap gồm:

Các loại vắc xin DTaP gồm: Daptacel, Infanrix, Kinrix, Pediarix, Pentacel, Vaxelis.

Các loại vắc xin có chứa thành phần DTaP gồm:

  • Vắc xin 4 trong 1 DTaP-IPV phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Bại liệt Tetraxim (Pháp);
  • Vắc xin 5 trong 1 DTaP-IPV-HiB phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Bại liệt - Viêm phổi, viêm màng não mủ do vi khuẩn Hib Pentaxim (Pháp);
  • Vắc xin 5 trong 1 DTaP-IPV-HiB phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Bại liệt - Viêm phổi, viêm màng não mủ do vi khuẩn Infanrix-IPV-Hib (Bỉ);
  • Vắc xin 5 trong 1 DTaP-VGB-HiB phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Viêm gan B - Viêm phổi, viêm màng não mủ do vi khuẩn HiB SII (Ấn Độ);
  • Vắc xin 6 trong 1 DTaP-IPV-VGB-HiB phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Bại liệt - Viêm gan B - Viêm phổi, viêm màng não mủ do vi khuẩn HiB Hexaxim (Pháp);
  • Vắc xin 6 trong 1 DTaP-IPV-VGB-HiB phòng Bạch hầu - Ho gà - Uốn ván - Bại liệt - Viêm gan B - Viêm phổi, viêm màng não mủ do vi khuẩn HiB Infanrix Hexa (Bỉ).

Lịch tiêm

  • Tiêm một liều duy nhất cho trẻ từ 11 - 12 tuổi và trẻ em trên 13 tuổi chưa tiêm Tdap hoặc chưa rõ lịch sử tiêm chủng. Sau đó tiêm liều tăng cường Td nhắc lại 10 năm.
  • Phụ nữ có thai nên tiêm vắc xin Tdap trong 3 tháng cuối thai kỳ.
  • Tiêm lúc 2, 4, 6 tháng tuổi. Liều tăng cường lúc 15 - 18 táng và 4 đến 6 tuổi.
  • Liều 4 có thể được tiêm sớm nhất là 12 tháng và ít nhất 6 tháng sau liều thứ 3.
tiêm vắc xin cho thanh thiếu niên
Dù có nhiều điểm giống nhau về công dụng phòng bệnh, loại vắc xin nhưng Tdap và DTaP lại khác nhau về đối tượng tiêm, mục đích sử dụng, hàm lượng kháng nguyên, lịch tiêm…

Vắc xin Tdap và DTaP có thể thay thế cho nhau không?

Vắc xin Tdap và DTaP không thể thay thế cho nhau, dù chúng đều phòng 3 bệnh bạch hầu, ho gà và uốn ván. Lý do là hai loại vắc xin này được thiết kế cho các nhóm tuổi khác nhau, với liều lượng kháng nguyên khác nhau.

DTaP được bào chế với liều lượng kháng nguyên cao hơn, phù hợp để xây dựng miễn dịch ban đầu cho trẻ dưới 7 tuổi. Đây là nhóm tuổi cần đáp ứng miễn dịch mạnh vì hệ miễn dịch còn non nớt. Người lớn hoặc trẻ trên 7 tuổi không được dùng DTaP do không phù hợp về liều lượng và tính an toàn.

Trong khi đó, Tdap chứa liều giảm của bạch hầu và ho gà, thường được ứng dụng làm liều tăng cường, chỉ định tiêm cho thanh thiếu niên và người lớn, phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt thứ 3 để bảo vệ trẻ sơ sinh. Trẻ dưới 7 tuổi thường không phù hợp tiêm Tdap trong một số trường hợp. Do đó, hai loại vắc xin này hoàn toàn không thể thay thế cho nhau.

Lộ trình tiêm phối hợp Tdap và DTaP:

  • 2 tháng tuổi: DTaP-IPV-VGB-HiB;
  • 3 tháng tuổi: DTaP-IPV-VGB-HiB;
  • 4 tháng tuổi: DTaP-IPV-VGB-HiB;
  • 16 - 18 tháng tuổi: DTaP-IPV-VGB-HiB;
  • 4 - 6 tuổi: DTaP-IPV;
  • Sau đó tiêm nhắc mỗi 10 năm bằng Tdap.

đưa trẻ đi tiêm phòng

Mặc dù vắc xin Tdap và DTaP đều có tác dụng phòng ngừa 3 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là bạch hầu, ho gà và uốn ván, nhưng mỗi loại lại được thiết kế với liều lượng và đối tượng sử dụng khác nhau. Hiểu rõ sự khác biệt giữa hai vắc xin giúp cha mẹ và người lớn chủ động tiêm đúng loại, đúng thời điểm, đảm bảo khả năng bảo vệ tối ưu. Để được tư vấn phác đồ phù hợp, người dân nên đến các cơ sở tiêm chủng uy tín để được bác sĩ thăm khám và đưa ra chỉ định chính xác

Chủ đề: #uốn ván
04:24 21/01/2026
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. Tina. (2025, September 5). Diphtheria, Tetanus and Pertussis – Institute for Vaccine Safety. Institute for Vaccine Safety; Hopkins IVS. https://www.vaccinesafety.edu/vaccine-preventable-diseases/

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ