27 bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi và cách ngăn ngừa

10:15 21/05/2024

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Hệ thống miễn dịch của trẻ dưới 1 tuổi vẫn chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng với bệnh tật kém. Khi mắc bệnh truyền nhiễm dù được điều trị kịp thời vẫn có thể để lại những di chứng nặng nề suốt đời, thậm chí tử vong. Sau đây là danh sách các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi ba mẹ cần biết để chủ động phòng bệnh ngay từ sớm, tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra.
| BS Đoàn Thị Khánh Châm, Quản Lý Y khoa vùng 2 - miền Bắc, Hệ thống tiêm chủng VNVC cho biết: “Trẻ càng nhỏ, nguy cơ mắc bệnh càng cao, diễn biến càng khó lường. Trẻ dưới 1 tuổi cần được chăm sóc cẩn thận và phòng bệnh sớm bằng vắc xin để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh, biến chứng hoặc những di chứng lâu dài của bệnh truyền nhiễm có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập, hạnh phúc và tương lai. Trẻ được tiêm phòng đầy đủ không chỉ bảo vệ sức khỏe cho bản thân, mà còn cho những người xung quanh, gia đình và cả cộng đồng”. |

Hệ miễn dịch non nớt của bé dưới 1 tuổi
Trước 6 tháng tuổi, sức đề kháng của trẻ chủ yếu phụ thuộc vào nguồn kháng thể từ mẹ truyền sang (qua nhau thai trong giai đoạn bào thai và qua sữa mẹ sau khi sinh). 6 tháng sau sinh, kháng thể từ mẹ truyền sang dần suy giảm và mất đi, tăng nguy cơ trẻ mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
Cơ thể trẻ nhỏ bé, khi bị các tác nhân gây bệnh tấn công lần đầu tiên có thể diễn tiến nặng dù được điều trị kịp thời. Do đó, ba mẹ cần chủ động phòng người nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cho trẻ ngay từ sớm, đồng thời nhận biết sớm các dấu hiệu mắc bệnh ở trẻ để có hướng xử trí kịp thời.
Các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi cha mẹ cần biết rõ
1. Các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi ở hệ hô hấp
1.1. Cảm lạnh
Bệnh cảm lạnh là một trong các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, khi thời tiết trở lạnh hoặc ẩm ướt, do một số loại virus chủ yếu là nhóm Rhinovirus và Enterovirus gây nên. Cảm lạnh ở người trưởng thành, người có sức khỏe tốt thường nhẹ; tuy nhiên ở trẻ em cảm lạnh có thể dẫn đến các biến chứng như viêm tai, viêm phổi, viêm phế quản, viêm xoang.
Các triệu chứng của cảm lạnh thường xuất hiện từ 1-2 ngày sau khi tiếp xúc với mầm bệnh. Ở trẻ em, cảm lạnh đặc trưng với các triệu chứng như: nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, vàng hoặc xanh, sốt trên 38 độ thường xuất hiện trong 3 ngày đầu của bệnh. Các triệu chứng khác có thể kể đến như đau họng, ho, khó chịu, giảm cảm giác thèm ăn, niêm mạc mũi đỏ và sưng lên, có thể xuất hiện hạch ở cổ.
Cảm lạnh là bệnh thường gặp ở trẻ, có thể tự khỏi sau vài ngày tuy nhiên, bệnh vẫn có nguy cơ dẫn đến biến chứng và trở nặng. Do đó, trong quá trình chăm sóc trẻ bị cảm lạnh, ba mẹ cần theo dõi tình trạng sức khỏe của trẻ. Nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường cần đưa trẻ đến cơ sở y tế theo dõi và điều trị. Lưu ý, trong quá trình điều trị cảm lạnh ở trẻ cần giữ mũi thông thoáng và giữ ấm cơ thể.
1.2. Cúm
Cúm mùa nằm vị trí thứ 2 trong số các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính do virus Influenza gây nên. Trong đó, các phân tuýp cúm A/H1N1, A/H3N2, B/Yamagata và B/Victoria lưu hành rộng rãi và thường gây bệnh nặng ở người. Virus cúm C gây các ca bệnh tản phát, không tạo thành dịch lớn.
Các triệu chứng cúm và cảm lạnh thường bị nhầm lẫn với nhau. Cần phân biệt rõ cúm và cảm lạnh để điều trị hiệu quả, đúng cách.
| Triệu chứng | Bệnh cảm | Bệnh cúm |
| Sốt | Hiếm khi sốt hoặc sốt nhẹ | Sốt cao (39 - 40 độ C), kéo dài nhiều ngày |
| Đau đầu | Ít xảy ra | Đau nhiều, liên tục |
| Đau cơ | Nhẹ | Nặng |
| Đau họng | Thường gặp | Thỉnh thoảng |
| Đau ngực | Ít xảy ra | Có thể nặng ngực, khó thở |
| Mệt mỏi | Nhẹ | Kiệt sức, kéo dài nhiều ngày |
| Hắt hơi | Thường xuyên | Thỉnh thoảng |
| Ho | Nhẹ đến vừa | Nhiều |
| Sổ mũi, nghẹt mũi | Phổ biến | Thỉnh thoảng |
Bệnh cúm ở người khỏe mạnh thường hồi phục trong vòng 2 đến 7 ngày. Tuy nhiên ở trẻ em, đặc biệt là trẻ có bệnh mạn tính, béo phì, nếu mắc cúm có thể gây ra các biến chứng như viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi, viêm não hay thậm chí tử vong.
Do đó, cần theo dõi trẻ, khi phát hiện dấu hiệu rút lõm lồng ngực, li bì, tím môi, kích thích vật vã, ăn kém hoặc bỏ ăn, nôn,... cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế ngay. Lưu ý, gia đình không tự ý điều trị cho trẻ bằng thuốc kháng sinh, có thể dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh, khiến việc điều trị về sau khó khăn hơn.

1.3. Viêm đường hô hấp trên
Viêm đường hô hấp trên là bệnh nhiễm trùng cấp tính đường hô hấp, do nhiều tác nhân như vi khuẩn, virus xâm lấn niêm mạc đường hô hấp trên. Bệnh thường gặp nhất là cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm xoang và viêm thanh quản. Đây là bệnh ở trẻ em dưới 1 tuổi thường gặp phải.
Người bệnh thường có biểu hiện hắt hơi, nghẹt mũi hoặc chảy mũi, rát họng, ho đau vùng xoang hay khó thở trong một số trường hợp. Viêm đường hô hấp trên thường khỏi sau 5 đến 6 ngày nếu được điều trị tích cực. Tuy nhiên, nhiều gia đình thường chủ quan, tự điều trị tại nhà không theo chỉ định của bác sĩ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
1.4. Viêm phế quản
Phế là phổi, quản là ống. Phế quản là ống dẫn không khí vào phổi, gồm nhiều ống từ lớn đến nhỏ, như cây chia ra làm nhiều cành. Trong đó hai nhánh lớn nhất là phế quản gốc phải và trái nếu bị viêm có thể dẫn đến ho khò khè, ho có đờm,... Người ta gọi tình trạng này là viêm phế quản.
Viêm phế quản là một trong các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, do virus, vi khuẩn gây ra. Trong đó, các loại virus phổ biến gây bệnh như cúm, RSV, Adenovirus,... vi khuẩn thường gặp như Bordetella pertussis (gây bệnh ho gà) hay mycoplasma pneumonia.
Một số triệu chứng của viêm phế quản có thể gặp ở người bệnh như ho, sốt, sổ mũi, nghẹt mũi, tiết đờm, khò khè, khám phổi có âm thanh bất thường. Hơn 90% trường hợp viêm phế quản là do virus, do đó không cần điều trị kháng sinh, mà tập trung vào điều trị triệu chứng và chăm sóc người bệnh. Trung bình người bệnh viêm phế quản sẽ khỏi sau 2-3 tuần. Khi gặp các biến chứng như bội nhiễm vi khuẩn, viêm phế quản cần dùng kháng sinh điều trị.

1.5. Viêm phổi
Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng, tử vong ở trẻ, luôn nằm trong danh sách các bệnh ở trẻ em dưới 1 tuổi thường gặp. Ước tính viêm phổi khiến 740.180 trẻ dưới 5 tuổi tử vong (2019), chiếm 14% số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, 22% số ca tử vong ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi. Hằng năm tại nước ta có khoảng 4.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong do viêm phổi. Phế cầu khuẩn được xem là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi ở nhóm đối tượng này, với tỷ lệ tử vong trên 50% trường hợp.
Viêm phổi do phế cầu khuẩn điều trị khó khăn bởi vi khuẩn có độc lực cao, đặc biệt là khả năng đề kháng kháng sinh, đáp ứng thuốc kém. Nhiều trẻ mắc viêm phổi do phế cầu dù được điều trị khỏi vẫn có khả năng bị viêm phổi hoại tử, dẫn đến nhiều di chứng nặng nề như giảm chức năng phổi, nguy cơ vỡ các kén khí gây tràn khí màng phổi. Ngoài khả năng gây viêm phổi, phế cầu khuẩn còn có thể tấn công các cơ quan khác gây viêm màng não, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết,... ở cả trẻ em và người lớn.
1.6. Ho gà
Ho gà là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, là 1 trong các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi với triệu chứng viêm long đường hô hấp trên, chán ăn, mệt mỏi, ho, không sốt hoặc sốt nhẹ. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Ý năm 2013 được đăng trên tạp chí BMC Infectious Diseases, trẻ em dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc ho gà gấp 20 lần so với tổng dân số. Có trên 90% số ca tử vong do ho gà được ghi nhận ở độ tuổi này.
Đặc trưng của các cơn ho ở người bệnh là ho rũ rượi, không kìm hãm được, sau đó là tiếng thở rít như gà gáy. Cuối cơn ho thường chảy nhiều đờm, dãi và có thể nôn. Ho thường tiến triển ngày càng nặng và trở thành kịch phát trong 1 đến 2 tuần, kéo dài 1-2 tháng hoặc lâu hơn.
Trước khi có vắc xin, ho gà bùng phát thành dịch tại nhiều quốc gia theo chu kỳ mỗi 3-4 năm/ lần. Sau hơn 40 năm đưa vắc xin vào sử dụng, cộng với việc cải thiện đời sống và chăm sóc sức khỏe, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm xuống từ 100-150 lần vào năm 1970.

2. Các bệnh về da bé dưới 1 tuổi hay mắc phải
2.1. Vàng da sinh lý
Vàng da sinh lý là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, là hiện tượng da và mắt trẻ có màu vàng do tăng bilirubin gián tiếp. 60% trường hợp vàng da sinh lý xuất hiện ở trẻ sinh đủ tháng và 80% ở trẻ sinh non. Vàng da sinh lý được phân loại là mức độ nhẹ của tình trạng vàng da sơ sinh, có thể tiến triển nặng thành vàng da bệnh lý. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có nguy cơ biến chứng nhiễm độc thần kinh dẫn đến tử vong hoặc di chứng não suốt đời ở trẻ.
Vàng da sinh lý có thể xuất hiện từ ngày thứ 3 sau sinh, chỉ vàng da mức độ nhẹ vùng cổ, mặt, ngực và vùng bụng phía trên rốn, thường không kèm theo các triệu chứng bất thường khác như bỏ bú, li bì, thiếu máu. Bệnh khỏi trong vòng 1 đến 2 tuần mà không can thiệp y tế. Cần cho trẻ bú sữa mẹ đầy đủ để cơ thể đào thải bilirubin ra ngoài.

2.2. Mụn sữa
Mụn sữa trẻ sơ sinh là bệnh lý ngoài da, với biểu hiện những mụn trắng hoặc đỏ li ti trên mặt hay vùng cằm, cổ của trẻ. Đây là các bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi. Bệnh thường xuất hiện vài tuần hoặc vài tháng sau sinh, có thể kéo dài đến 2 tuổi. Hầu hết các trường hợp mụn sữa sau sinh nhẹ và có thể tự khỏi mà không cần sử dụng thuốc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mụn sữa nổi nhiều gây đau đớn và khó chịu cho trẻ, bác sĩ có thể chỉ định một số loại thuốc bôi để giảm bớt triệu chứng trên da.
2.3. Hăm tã
Gần 50% trẻ sơ sinh tại Việt Nam bị hăm tã. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều quanh năm tại nước ta. Đây là điều kiện môi trường lý tưởng cho vi khuẩn sinh sôi và tấn công, làm hăm da bé. Trẻ sơ sinh có làn da vô cùng nhạy cảm và dễ tổn thương, chỉ mỏng bằng 1/5 so với người lớn, các chức năng cân bằng trên da cũng chưa phát triển hoàn thiện. Mặt khác, mặc tã cả ngày cộng với việc vệ sinh không đúng cách của phụ huynh làm gia tăng nguy cơ hăm tã ở trẻ.
Hăm tã nếu không được phát hiện và điều trị có thể khiến trẻ ngứa ngáy, khó chịu, đau đớn do nhiễm trùng da. Tại vùng da bị tổn thương do hăm tã, vi khuẩn còn có thể dễ dàng xâm nhập, đi ngược dòng theo đường tiểu, khiến trẻ viêm đường tiết niệu, suy giảm chức năng thận, có khả năng làm ảnh hưởng khả năng sinh sản của trẻ sau này.

2.4. Nấm miệng ở trẻ dưới 1 tuổi
Nấm miệng, bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, do sự hoạt động quá mức của nấm Candida. Bình thường loại nấm này tồn tại trên cơ thể ở da, hệ tiêu hóa, cơ quan sinh dục nữ,... không xâm lấn hay gây bệnh. Trẻ em nhiễm nấm Candida trong lúc sinh, khi mẹ bị nấm âm đạo lúc mang thai bé. Miệng trẻ có pH thấp, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, vệ sinh răng miệng kém là những điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển.
Nấm Candida biểu hiện bằng những mảng trắng trên nền hồng ban niêm mạc má, lưỡi. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp nấm miệng không biểu hiện triệu chứng, được tình cờ phát hiện khi thăm khám các bệnh lý khác. Khi nghi ngờ trẻ bị nấm miệng, ba mẹ nên đưa con đến bác sĩ để được chẩn đoán xác định và điều trị. Nếu sau điều trị mà nấm miệng vẫn tái phát có thể là do việc sử dụng các dụng cụ sinh hoạt nhiễm nấm chưa được làm sạch, như núm vú giả, bàn chải, đồ chơi,...
3. Bệnh ở trẻ em dưới 1 tuổi liên quan hệ tiêu hóa
3.1. Nôn trớ ở trẻ sơ sinh
Nôn trớ là tình trạng thường gặp ở trẻ sơ sinh do nhiều nguyên nhân. Có khoảng 20-50% trẻ sơ sinh nôn trớ sau ăn trong vòng 6 đến 12 tháng đầu sau sinh. Nôn trớ có thể là một hiện tượng sinh lý bình thường, nhưng cũng được xem là triệu chứng cảnh báo bệnh truyền nhiễm ở trẻ như: viêm họng, viêm phế quản hay viêm phổi.
Tuy nhiên, trẻ nôn trớ khi mắc các bệnh này, thường đi kèm sốt, ho và đôi khi khó thở. Ngoài ra, các nguyên nhân khác gây nôn trớ ở trẻ sơ sinh do ngộ độc thức ăn, hoặc dấu hiệu sớm của tắc ruột, lồng ruột, hẹp ruột bẩm sinh,...
3.2. Tiêu chảy
Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi. Tiêu chảy ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi thường do Rotavirus gây ra. Ở các nước đang phát triển, có trên 125 triệu trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp do Rotavirus được ghi nhận hằng năm. Trẻ càng nhỏ nguy cơ nhiễm bệnh càng cao, tiến triển càng nặng, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi. Hằng năm, số trẻ tử vong do Rotavirus chiếm từ 4-8% trên tổng số trẻ dưới 5 tuổi tử vong do mọi nguyên nhân.
Tại Việt Nam, có đến 55% trường hợp trẻ tiêu chảy cấp nhập viện do Rotavirus. Có nghĩa rằng, cứ 2 trẻ nhập viện do tiêu chảy thì có 1 trẻ nhiễm Rotavirus. Tiêu chảy do Rotavirus có tỷ lệ nhập viện cao gấp 3 lần so với tiêu chảy do các nguyên nhân khác.
Hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus, phương pháp điều trị chủ yếu là bù nước qua đường uống và chế độ dinh dưỡng thích hợp cho người bệnh. Trong trường hợp không thể bù nước qua đường uống, trẻ cần nhập viện để truyền dịch đường tĩnh mạch.

3.3. Táo bón
Táo bón là dấu hiệu cảnh báo hệ tiêu hóa trẻ không khỏe mạnh, chế độ dinh dưỡng thiếu xơ, thiếu nước. Nếu tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến sức khỏe. Nguyên nhân táo bón ở trẻ được chia thành 2 nhóm chính gồm nguyên nhân thực thể và nguyên nhân chức năng. Đây là bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi.
Nguyên nhân thực thể bao gồm các vấn đề như bệnh cường giáp, bệnh phì đại tràng bẩm sinh, bệnh đái tháo đường, bệnh liên quan đến thần kinh... Còn về nguyên nhân chức năng thường gặp nhất là do trẻ nhịn đi ngoài, trẻ sơ sinh bị táo bón do ăn thức ăn đặc hoặc khi bé cai sữa mẹ mất nguồn cung cấp nước, thiếu chất xơ từ trái cây, rau củ.
Táo bón thường chỉ xảy ra ngắn hạn, nếu trẻ táo bón kéo dài, trẻ xuất hiện thêm các triệu chứng như đau bụng kéo dài, nôn, đầy hơi, phân lẫn máu cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và xử trí kịp thời vì rất có thể đây là dấu hiệu cảnh báo biến chứng nguy hiểm như thủng ruột, tắc ruột, viêm ruột thừa, viêm tụy,...
4. Các bệnh về nhiễm trùng trẻ dưới 1 tuổi có thể mắc phải
4.1. Thủy đậu
Trong hầu hết các trường hợp thủy đậu ở trẻ sẽ phục hồi tốt nếu được chăm sóc và điều trị đúng cách. Tuy nhiên, trẻ dưới 5 tuổi bị thủy đậu có thể gặp các biến chứng nghiêm trọng như viêm tai, viêm thanh quản, viêm phổi, viêm thận cấp và thậm chí là tử vong. Virus thủy đậu là nguyên nhân gây viêm não đứng hàng thứ hai, với tỷ lệ tử vong ở người bệnh là 9-20%. Nếu may mắn được cứu sống, người bệnh phải đối mặt với nguy cơ bại não, nằm liệt giường.
Phụ nữ mang thai mắc thủy đậu có thể gây hội chứng thủy đậu bẩm sinh cho thai nhi, gây dị tật sọ, đục thủy tinh thể, chậm phát triển trí tuệ, đầu nhỏ, não úng thủy, teo tứ chi. Có đến 30% trường hợp trẻ tử vong do nhiễm thủy đậu từ mẹ.

4.2. Tay chân miệng
Tay chân miệng thường gặp nhất ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi. Bệnh đặc trưng với các vết loét ở miệng, nổi hồng ban ở chân và tay, ngoài ra còn đi kèm một số biểu hiện khác như sốt, quấy khóc, đau họng,... Bệnh thường tự khỏi sau 5-7 ngày tính từ thời điểm triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Tuy nhiên, nếu không được theo dõi và chăm sóc đúng cách, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm não, viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi và cả tử vong.
Do đó, khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh tay chân miệng, phụ huynh cần đưa trẻ đến bác sĩ để được thăm khám và hướng dẫn điều trị. Nếu điều trị tại nhà, ba mẹ cho trẻ uống nhiều nước, tránh những loại thức ăn và đồ uống có tính axit như nước trái cây, nước có ga, tránh các thức ăn quá mặn hoặc quá cay. Ưu tiên các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu như cháo, sinh tố.
Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như sốt cao, quấy khóc, hốt hoảng, run tay chân, đi đứng loạng choạng, thở bất thường cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ để được theo dõi.
4.3. Sởi
Sởi là bệnh lây truyền qua đường hô hấp và có khả năng bùng phát thành dịch. Bệnh đặc trưng với triệu chứng phát ban thành từng mảng, màu hồng nhạt, không ngứa, mọc từ gáy, đến mặt rồi lan toàn thân. Ban thường kéo dài khoảng 6 ngày, khi đã lan khắp toàn thân, người bệnh bắt đầu hồi phục.
Các triệu chứng khác của bệnh gồm sốt cao, ho khan, viêm đường hô hấp. Nếu sởi tiến triển nặng, người bệnh có thể bị tím da, xuất huyết dưới da, sốt cao 39 đến 41 độ C, hôn mê, vật vã, huyết áp tụt, thở nhanh, nôn, tiêu chảy,... Lúc này trẻ cần nhập viện để được cấp cứu kịp thời. Sởi có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm phổi, viêm tai giữa gây điếc, viêm giác mạc gây mù lòa và tử vong.

4.4. Sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết có nguồn lây từ muỗi vằn. Tùy vào từng giai đoạn mà bệnh biểu hiện những triệu chứng khác nhau. Ở giai đoạn đầu, sốt xuất huyết thường dễ nhầm lẫn với các bệnh do virus thông thường.
Trẻ sốt cao đột ngột 39 đến 40 độ, sốt liên tục trong 1 đến 2 ngày, sau đó bệnh chuyển sang giai đoạn 2. Lúc này trẻ khó chịu, quấy khóc, trẻ lớn hơn có thể bị đau đầu, chán ăn và buồn nôn. Da bắt đầu sung huyết, đau nhức hai mắt, chảy máu chân răng, chảy máu cam hay thậm chí xuất huyết nội tạng. Lúc này, trẻ tiến vào giai đoạn 3, người bệnh bắt đầu hồi phục. Nếu trẻ bệnh nặng sẽ xuất hiện những biến chứng bất thường như sốc do mất máu, thoát huyết tương, suy đa tạng, mù đột ngột, viêm não,...
4.5. Bệnh bạch hầu
Bạch hầu là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi; là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc tại hầu họng, thanh quản hoặc mũi. Nếu không được phát hiện và điều trị, người bệnh có thể gặp các biến chứng như viêm cơ tim, tổn thương thần kinh và tử vong do trụy tim mạch. Bệnh bạch hầu có tỷ lệ tử vong cao, có thể lên đến 10% trên tổng số ca bệnh.
Tùy vào vị trí mà vi khuẩn gây bệnh sẽ có biểu hiện và biến chứng khác nhau. Nhẹ nhất là bạch hầu mũi trước và nặng nhất là bạch hầu thanh quản. Bệnh nhân sốt nhẹ, ho, khàn tiếng, giả mạc xuất hiện tại thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Giả mạc có thể gây tắc đường thở, khiến bệnh nhân suy hô hấp và tử vong nhanh.
Bạch hầu ở họng và amidan khiến bệnh nhân đau họng, chán ăn, sốt nhẹ, giả mạc xuất hiện ở amidan hoặc bao phủ cả vùng hầu họng. Trong trường hợp nặng, bệnh nhân đờ đẫn, mạch nhanh và hôn mê. Không được điều trị tích cực, bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.
Ngoài những vị trí trên, vi khuẩn bạch hầu có thể xâm lấn và gây bệnh tại nhiều vị trí khác trên cơ thể, nhưng ở thể bệnh nhẹ và hiếm gặp.
4.6. Viêm tai giữa
Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia Hoa Kỳ, có 709 triệu ca viêm tai giữa cấp hằng năm, hơn một nửa số ca xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi. Viêm tai giữa là một trong bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi thuộc nhóm bệnh truyền nhiễm ở trẻ em, chiếm 13,6 triệu lượt khám hằng năm. (1)
Tỷ lệ mắc viêm tai giữa thấp nhất ở Châu Âu, nhưng cao hơn ở Hoa Kỳ, Ice Land và các nước đang phát triển. Tỷ lệ viêm tai giữa cao nhất ở trẻ 6 đến 15 tháng tuổi. Sau 24 tháng tuổi, nguy cơ viêm tai giữa giảm dần. Có 50-85% trẻ 3 tuổi từng bị viêm tai giữa ít nhất một lần trong đời.
Có khoảng 21.000 người tử vong hằng năm do biến chứng viêm tai giữa, hầu hết là trẻ sơ sinh dưới 12 tháng tuổi ở các nước đang phát triển. Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh do phế cầu khuẩn. Đây là loại vi khuẩn trú ngụ trong vùng hầu họng của con người, chỉ chờ khi sức khỏe của vật chủ suy yếu sẽ thừa cơ hội tấn công vào đường hô hấp, gây các bệnh viêm tai giữa, viêm phổi, viêm màng não. Viêm tai giữa do phế cầu thường diễn tiến nhanh, để lại nhiều di chứng nặng nề như thủng màng nhĩ, giảm thính lực, viêm xương chũm, viêm màng não, áp xe não,…

4.7. Nhiễm trùng đường tiết niệu
Nhiễm trùng đường tiết niệu là loại nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em, đây là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi có khả năng ảnh hưởng đến bàng quang, thận, niệu quản và niệu đạo. Tình trạng này xảy ra khi vi khuẩn bội nhiễm ngược dòng niệu đạo và bàng quang. Trong đó, Escherichia Coli - loại vi khuẩn thường trú đường ruột chiếm 80% trong tổng số các tác nhân gây bệnh.
Các triệu chứng nhiễm trùng tiết niệu có thể khác nhau tùy vào mỗi cá thể như: đau, rát khi đi tiểu, đau vùng bụng dưới, tiểu thường xuyên, nước tiểu có mùi hoặc đổi màu, sốt, nôn mửa, sụt cân, mệt mỏi, vàng da,... Một số trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ nhỏ có triệu chứng không điển hình, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng thận gây nguy hiểm.
Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu được chữa khỏi trong 1 tuần nếu điều trị đúng cách, nhưng thường phải mất đến vài tuần cho đến khi các triệu chứng hoàn toàn biến mất. Tập cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ vùng kín, uống đủ nước và đi vệ sinh thường xuyên, mặc đồ lót rộng rãi bằng vải cotton thấm hút,... có thể ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu.
4.8. Nhiễm trùng rốn
Nhiễm trùng rốn hay viêm rốn là nguyên nhân tử vong của gần 15% trẻ sơ sinh. Dấu hiệu nhiễm trùng rốn ở trẻ bao gồm: da xung quanh vùng rốn đỏ, sưng; chảy máu hoặc tiết dịch từ cuống rốn; có mùi hôi từ cuống rốn; nổi mụn nước hoặc phát ban vùng cuống rốn; sốt; bỏ bú, lừ đừ.
Nhiễm trùng rốn thường gặp ở trẻ sinh ra trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh hoặc do nhân viên y tế sử dụng dụng cụ cắt dây rốn không tiệt trùng. Ngoài ra, mẹ nhiễm trùng nhau ối trong thai kỳ, ối vỡ kéo dài trên 24 giờ trước sanh, trẻ không được chăm sóc rốn đúng cách có thể là những yếu tố tăng nguy cơ nhiễm trùng rốn ở trẻ.
Trong hầu hết các trường hợp, trẻ bị nhiễm trùng rốn sẽ đường điều trị bằng kháng sinh, thông qua đường tiêm tĩnh mạch. Tùy vào mức độ nhiễm trùng mà bác sĩ sử dụng liều lượng và loại thuốc kháng sinh phù hợp, cũng như sử dụng thêm các kháng sinh khác theo đường uống hoặc bôi.
4.8. Viêm mắt
Viêm mắt (hay viêm kết mạc) là bệnh nhiễm trùng phổ biến gây sưng, đỏ và đau vùng kết mạc, đây là một trong các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi. Kết mạc là lớp mô bao phủ lòng trắng và bên trong mí mắt nhưng không bao phủ giác mạc. Các triệu chứng viêm mắt bao gồm: tiết dịch ở mắt, đau và sưng kết mạc, mí mắt sưng tấy và nhạy cảm với ánh sáng. Viêm kết mạc dễ lây lan, đặc biệt là trẻ em học tập và sinh hoạt trong môi trường học đường.
Nguyên nhân viêm kết mạc thường do nhiễm các loại vi khuẩn như Haemophilus influenzae (Hib), Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn), Neisseria gonorrhoeae (lậu cầu); nhiễm virus, dị ứng hoặc bị hóa chất bắn vào mắt. Khi trẻ có dấu hiệu viêm mắt cần đến bệnh viện để được theo dõi và chăm sóc. Phòng ngừa viêm mắt bằng cách tập cho trẻ thói quen rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, không cho trẻ chạm tay vào mắt.
5. Một số bệnh nguy hiểm khác hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi
5.1. Viêm não Nhật Bản
Virus viêm não Nhật Bản lây truyền qua đường muỗi đốt, là nguyên nhân chính của viêm não do virus ở nhiều quốc gia Châu Á. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh hằng năm khác nhau giữa các quốc gia, có thể dao động từ 1-10/ 100.000 dân hoặc cao hơn trong các đợt dịch bùng phát. Ước tính có gần 68.000 ca viêm não Nhật Bản trên toàn thế giới mỗi năm, với khoảng 13.600-20.400 ca tử vong. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là trẻ em, song bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. (2)
Hầu hết các ca viêm não Nhật Bản biểu hiện với triệu chứng sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, mất phương hướng, nặng hơn có thể hôn mê, co giật, liệt cứng và tử vong. Khoảng 1 trong 250 trường hợp viêm não Nhật Bản diễn tiến nghiêm trọng. Tỷ lệ tử vong của bệnh có thể lên đến 30%. Nếu may mắn sống sót, 20-30% người có thể bị di chứng vĩnh viễn về trí tuệ, hành vi, hoặc thần kinh như tê liệt, co giật tái phát hoặc mất khả năng giao tiếp.
Tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản đúng lịch và đủ mũi là phương pháp phòng bệnh hiệu quả nhất hiện nay. Vắc xin được chỉ định cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên và người lớn. Bên cạnh việc tiêm phòng, cần tập cho trẻ thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường sống, ngủ màn tránh muỗi đốt và thường xuyên sử dụng biện pháp chống và diệt muỗi.

5.2. Viêm gan
Viêm gan thường có những biểu hiện như nước tiểu sẫm màu, phân xám, vàng mắt và da, sốt cao,... Nguyên nhân viêm gan ở trẻ thường liên quan đến virus, trong đó phổ biến nhất là viêm gan do virus A, B, C, D. Ngoài ra, các loại virus khác có khả năng gây viêm gan như Adenovirus, CMV, EBV,... nhưng trường hợp này rất hiếm. (3)
| NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP CỦA VIÊM GAN CẤP TÍNH | ||||
| VIRUS | ĐƯỜNG LÂY | THỜI GIAN Ủ BỆNH | TIÊN LƯỢNG | VẮC XIN |
| Viêm gan A | Ăn thực phẩm/nước uống bị ô nhiễm | 15-40 ngày | Dự kiến sẽ phục hồi hoàn toàn. | Có |
| Viêm gan B | Máu, kim tiêm, hoạt động tình dục | 50-180 ngày | - 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng mãn tính.
- 10% trẻ lớn bị nhiễm trùng mãn tính. |
Có |
| Viêm gan C | Máu, kim tiêm | 2-6 tháng | 70-80% nhiễm trùng cấp tính trở thành mãn tính. | Không |
| Viêm gan D | Máu, kim tiêm, hoạt động tình dục | Không rõ ràng, vì bệnh đồng nhiễm với viêm gan B | Làm cho bệnh viêm gan B nặng hơn | Không |
| Viêm gan E | Ăn thực phẩm/nước bị ô nhiễm | 5-60 ngày | Dự kiến sẽ hồi phục hoàn toàn, nhưng nhiễm trùng có thể nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai. | Không |
| Virus Epstein Barr (EBV) | Tiếp xúc với chất dịch cơ thể, đặc biệt là nước bọt người bệnh. | 30-50 ngày | - Nhiễm trùng thông thường gây ra bệnh bạch cầu đơn nhân (còn gọi là bệnh đơn nhân).
- Có thể gây viêm gan trong một số trường hợp hiếm gặp. - Dự kiến phục hồi hoàn toàn. |
Không |
| Cytomegalovirus (CMV) | Tiếp xúc với dịch tiết cơ thể. | 4-6 tuần | Rất phổ biến, hơn 50% người trưởng thành 40 tuổi nhiễm virus này, đôi khi gây ra bệnh viêm gan. | Không |
| Adenovirus | Hít phải giọt bắn chứa virus trong không khí (ví dụ như ho hoặc hắt hơi); vùng nước bị ô nhiễm – như bể bơi và hồ. | Vài ngày đến vài tuần | Nhiễm trùng thông thường, gây viêm gan trong một số trường hợp hiếm gặp. | Không |
Viêm gan B và biến chứng xơ gan, ung thư gan có mối liên hệ chặt chẽ. Có trên 80% người bệnh ung thư gan tiến triển từ viêm gan siêu vi B và 5% từ viêm gan siêu vi C. Hằng năm có khoảng nửa triệu người tử vong do biến chứng của viêm gan B mạn tính là xơ gan và ung thư gan. Tỷ lệ tử vong do ung thư gan tương đương số người mắc bệnh, bởi thực tế có gần 90% bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.
Tiêm vắc xin là cách phòng bệnh viêm gan tối ưu nhất ở trẻ em và người lớn, loại bỏ nguy cơ diễn tiến xơ gan, ung thư gan do virus viêm gan gây ra.
5.3. Lao
Việt Nam là nước có gánh nặng bệnh lao cao, xếp thứ 10 trên 30 nước có số ca nhiễm lao cao nhất và thứ 11 trong số các quốc gia có gánh nặng lao cao nhất thế giới. Hằng năm, nước ta có hơn 172.000 ca nhiễm lao, trong đó có 10.400 trường hợp tử vong.
Ở trẻ em, lao thường gặp ở trẻ từ 1-5 tuổi. Vi khuẩn lao lây qua đường hô hấp, xâm nhập vào máu và gây ra các bệnh như lao màng não, lao hạch, lao màng bụng, lao da, lao xương, lao màng tim,... Trong đó, lao màng não có tỷ lệ tử vong hàng đầu trong các bệnh lý về lao ở trẻ sơ sinh. Nếu may mắn sống sót, trẻ cũng phải chịu những di chứng nặng nề như bại não, rối loạn tâm thần, động kinh, sa sút trí tuệ, điếc, mù, liệt.
Vắc xin ngừa lao được chỉ định tiêm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong 1 tháng đến 1 năm sau sinh, giúp phòng ngừa những chủng lao nguy hiểm, đặc biệt bệnh lao màng não.
5.4. Bại liệt
Bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền qua đường tiêu hóa, gây liệt chi, liệt nửa người, liệt tủy sống, suy hô hấp và tử vong, đây là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi. Trước khi nước ta tự sản xuất vắc xin bại liệt, bệnh có tỷ lệ mắc lên đến 126,44/ 100.000 dân. Từ 1985, khi vắc xin được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Đến năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận nước ta đã thanh toán được bệnh bại liệt.
Các chuyên gia khuyến cáo, trẻ em cần chủng ngừa vắc xin đầy đủ, đúng lịch để được bảo vệ tốt nhất trước bệnh bại liệt. Nếu trì hoãn tiêm, tiêm chậm trễ hoặc bỏ tiêm, miễn dịch cộng đồng sẽ không còn đủ sức để bảo vệ những trẻ chưa được hoặc không đủ điều kiện tiêm phòng, nguy cơ dịch bại liệt một lần nữa sẽ quay trở lại.
5.5. Sốt co giật
Sốt co giật khá phổ biến, với khoảng 3% ở trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi. Đa số trẻ sốt co giật toàn thân dưới 15 phút và không tái phát trong 24 giờ. Các trường hợp sốt co giật phức tạp hơn có thể kéo dài trên 15 phút và tái phát trong 24 giờ. Nếu chỉ sốt co giật một lần sẽ không ảnh hưởng đến thần kinh, trừ khi trẻ co giật quá nhiều lần.
Khi trẻ sốt co giật, ba mẹ cần tìm cách hạ sốt bằng thuốc uống, thuốc đặt và nhìn đồng hồ để biết thời gian bé bị giật. Cần đặt bé nằm ngang để tránh sặc nước bọt. Chú ý không đưa tay vào miệng còn vì tay người lớn không sạch sẽ, lưỡi bé cũng thụt vào trong chứ không đưa ra ngoài. Trong trường hợp các cơn co giật tái phát nhiều lần cần đưa trẻ đến bệnh viện để được xử trí.
⇒ Xem thêm: 16 bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ em.
Phòng ngừa các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi
1. Chủng ngừa đúng lịch cho bé dưới 1 tuổi
Vắc xin bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ mắc các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi, biến chứng, di chứng lâu dài và thậm chí là tử vong. Ví dụ, vắc xin bảo vệ trẻ khỏi bệnh bại liệt, bệnh có khả năng gây liệt không hồi phục; bệnh do Hib gây tổn thương não và tử vong; bệnh quai bị gây điếc, ảnh hưởng khả năng sinh sản.
Vắc xin là phương pháp phòng bệnh an toàn nhất của nền y học hiện đại. Mỗi loại vắc xin khi được đưa vào sử dụng đã trải qua quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt chứng minh là an toàn và hiệu quả. Trẻ được chủng ngừa vắc xin, không chỉ bảo vệ sức khỏe cho bản thân, mà còn cho những người xung quanh, gia đình và cả cộng đồng.

LỊCH TIÊM CHO TRẺ TỪ 0-12 THÁNG TUỔI
Là đối tác chính thức của nhiều hãng sản xuất vắc xin hàng đầu thế giới như Sanofi Pasteur (Pháp), Pfizer (Mỹ), Glaxosmithkline (GSK - Bỉ), Merck Sharp and Dohme (MSD - Mỹ)... VNVC có nguồn vắc xin chất lượng cao, số lượng lớn và nguồn cung ổn định. VNVC có đầy đủ các loại vắc xin cho trẻ em và người lớn, đặc biệt là các loại vắc xin quan trọng cho trẻ dưới 1 tuổi như vắc xin 5 trong 1, 6 trong 1, vắc xin phòng lao, viêm gan B/ AB, vắc xin phế cầu, vắc xin não mô cầu, vắc xin phòng tiêu chảy do Rotavirus,...
Các loại vắc xin được bảo quản trong hệ thống kho lạnh đạt chuẩn GSP, hệ thống dây chuyền bảo quản lạnh (Cold Chain) cùng hệ thống xe lạnh, tủ lạnh và thùng lạnh giúp bảo quản, lưu trữ vắc xin trong điều kiện tối ưu theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Tại mỗi phòng tiêm, VNVC trang bị tủ bảo quản chuyên dụng đảm bảo độ an toàn và chất lượng vắc xin luôn ở mức cao nhất cho đến khi tiêm chủng cho Quý Khách hàng.
Để được tư vấn, đặt lịch tiêm phòng cho trẻ em dưới 1 tuổi và gia đình, mời Quý Khách vui lòng liên hệ Hotline 028 7102 6595, qua fanpage trungtamtiemchungvnvc.
2. Cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu sau sinh không chỉ đảm bảo nguồn dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho sự phát triển của trẻ ở giai đoạn này, mà còn giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm nhờ vào nguồn kháng thể dồi dào có trong sữa mẹ, từ đó giúp bé phòng ngừa được các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi.
Sữa mẹ có thể đáp ứng 70% nhu cầu năng lượng ở trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi và 30-40% nhu cầu năng lượng ở trẻ từ 1 đến 2 tuổi. Sữa mẹ còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ, giúp trẻ phát triển trí não, phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng, nhất là tiêu chảy hay nhiễm khuẩn đường hô hấp.
3. Giữ vệ sinh môi trường sống của bé
Giữ vệ sinh môi trường sống giúp tiêu diệt các mầm bệnh hiệu quả. Ba mẹ nên để nhà cửa thoáng khí, thường xuyên quét dọn, lau chùi thường xuyên. Vệ sinh những bề mặt, đồ vật thường sử dụng như tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, bề mặt điện thoại, mặt bàn,... bằng dung dịch sát khuẩn chứa cồn hay cloramin. Bố trí thùng rác có nắp đậy, đặt ở vị trí thuận tiện. Thu gom và xử lý rác hằng ngày.
4. Vệ sinh đồ dùng cá nhân của bé thường xuyên
Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân, thường xuyên đưa tay và các vật dụng vào miệng, tạo cơ hội cho các mầm bệnh xâm nhập. Do đó, ba mẹ cần thường xuyên khử trùng, sát khuẩn các đồ dùng cá nhân của trẻ, nhất là đồ chơi, đảm bảo an toàn, cho trẻ thỏa thích vui chơi, sáng tạo.
5. Theo dõi sức khỏe của bé để xử lý kịp thời
Đa số các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm đều có triệu chứng đặc trưng, theo dõi sức khỏe của bé nhằm sớm phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ bệnh, từ đó có hướng xử trí kịp thời. Khi trẻ có những triệu chứng bất thường như sốt, ho, quấy khóc, nhảy mũi, nổi ban, tiêu chảy... cần đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ thăm khám và chỉ định điều trị thích hợp. Ba mẹ không tự ý mua thuốc điều trị mà không theo chỉ định của các bác sĩ.
Bố mẹ cần tránh các việc sau khi chăm sóc bé dưới 1 tuổi
Khi chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi, ba mẹ cần lưu ý một số điều sau:
- Không quấn tã quán kín vì có thể khiến trẻ dễ nhiễm trùng, nhiễm khuẩn;
- Không để trẻ mặc quần áo mới chưa giặt, để tránh tình trạng dị ứng da và bảo vệ da bé không bị tổn thương do chất vải mới;
- Không đánh vào đầu và lưng trẻ, vì đây là hai khu vực tập trung hệ thống thần kinh trung ương và tủy sống, khi bị đánh vào các bộ phận này thần kinh của trẻ có thể bị ảnh hưởng;
- Không nên để hoa trong phòng ngủ để tránh tình trạng dị ứng phấn hoa ở trẻ. Một số loài hoa còn chứa độc tố ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ, mùi hương quá mạnh gây dị ứng, hay gai nhọn có thể làm tổn thương trẻ nếu vô tình chạm phải;
- Không nên tắm quá kỹ, vì da trẻ mỏng, nhạy cảm, nếu tắm quá kỹ bằng xà phòng có chứa kiềm mạnh sẽ làm da trẻ nổi mẩn đỏ đồng thời giảm chức năng bảo vệ của da.
Trẻ dưới 1 tuổi cần được chăm sóc cẩn thận; cần sự chở che, bao bọc của ba mẹ và quan trọng nhất là cần được phòng bệnh sớm bằng vắc xin phòng ngừa các bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi. Với những bậc phụ huynh lần đầu được lên chức ba, mẹ, chưa thật sự hiểu rõ về các loại vắc xin, lịch tiêm ngừa theo độ tuổi của bé, đừng ngần ngại liên hệ với Hệ thống trung tâm tiêm chủng VNVC qua hotline 028 7102 6595 hoặc đến trung tâm tiêm chủng gần nhất.
- Schilder, A. G., Chonmaitree, T., Cripps, A. W., Rosenfeld, R. M., Casselbrant, M. L., Haggard, M. P., & Venekamp, R. P. (2016). Otitis media. Nature reviews. Disease primers, 2(1), 16063. https://doi.org/10.1038/nrdp.2016.63
- WHO. (9 May 2019). Japanese encephalitis. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/japanese-encephalitis
- How do children get hepatitis? (n.d.). HealthyChildren.org. https://www.healthychildren.org/English/health-issues/conditions/abdominal/Pages/Hepatitis.aspx







