16 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp: Đặc điểm và phòng ngừa

Phó Giám đốc Y khoa miền Bắc
Hệ thống Tiêm chủng VNVC

15:58 24/04/2024
Trẻ em là một “phiên bản thu nhỏ”, hệ miễn dịch cũng nhỏ bé và dễ tổn thương bởi các bệnh truyền nhiễm, dễ chuyển biến nặng và có nguy cơ tử vong cũng cao. Chính vì vậy trẻ em rất cần được bảo vệ đầy đủ trước các bệnh truyền nhiễm đang ngày càng diễn biến phức tạp. Sau đây là 16 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp, dấu hiệu nhận biết sớm và phòng ngừa bệnh. (1)
| BS.CKI Tống Thị Ngọc Cầm- Phó Giám đốc Y khoa miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: “Tiêm chủng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là phương pháp phòng bệnh truyền nhiễm chủ động hiệu quả nhất. Khoảng 85%-95% người được tiêm chủng sẽ tạo ra được miễn dịch đặc hiệu bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh, biến chứng, tử vong. Nhờ có vắc xin mà hơn 2,5 mỗi năm tránh khỏi nguy cơ tử vong do bệnh truyền nhiễm. Vắc xin và tiêm chủng giúp trẻ khỏe mạnh còn giảm thiểu được chi phí chăm sóc y tế, giảm thời gian và công sức của những người thân trong gia đình, ba mẹ không phải nghỉ làm để chăm sóc trẻ khi mắc bệnh”. |

Vì sao trẻ em dễ mắc các bệnh truyền nhiễm?
Trẻ em có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cao hơn người lớn do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, khả năng tiếp xúc với mầm bệnh nhiều và những thay đổi về miễn dịch theo từng giai đoạn phát triển.
- Hệ miễn dịch chưa hoàn thiện ở trẻ nhỏ
Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi là nhóm có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cao nhất do hệ miễn dịch còn non yếu. Hàng rào bảo vệ tự nhiên của cơ thể chưa phát triển đầy đủ, trong khi chức năng của các tế bào miễn dịch như bạch cầu trung tính, tế bào tiêu diệt tự nhiên (NK) và tế bào tua (dendritic) còn hạn chế, khiến cơ thể khó nhận diện và tiêu diệt mầm bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
Đặc biệt, trẻ sinh non có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn vì chưa hình thành đầy đủ lớp màng bảo vệ da giàu các protein và peptide kháng khuẩn (APP), tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại vi khuẩn và virus, vốn được hoàn thiện chủ yếu trong 3 tháng cuối thai kỳ.
- Kháng thể từ mẹ suy giảm sau 6 tháng tuổi
Trong những tháng đầu đời, trẻ được bảo vệ một phần nhờ kháng thể IgG truyền từ mẹ qua nhau thai. Các kháng thể này có thể giúp phòng ngừa hoặc làm giảm mức độ nghiêm trọng của một số bệnh truyền nhiễm, điển hình như virus hợp bào hô hấp (RSV) và cúm.
Tuy nhiên, lượng kháng thể thụ động này giảm dần theo thời gian và hầu như không còn hiệu quả sau khoảng 6 tháng tuổi. Khi "lá chắn" từ mẹ mất đi trong khi hệ miễn dịch của trẻ vẫn chưa phát triển hoàn thiện, nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm sẽ tăng lên nếu trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ. Nhiều bệnh có thể gây biến chứng nặng, để lại di chứng lâu dài, thậm chí đe dọa tính mạng.
- Tiếp xúc nhiều hơn khi đến trường
Khi bước vào tuổi đi học, trẻ thường xuyên học tập, vui chơi và sinh hoạt trong môi trường đông người. Việc tiếp xúc gần với bạn bè, dùng chung đồ dùng hoặc chưa thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân khiến nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm như cúm, sởi, thủy đậu, tay chân miệng... tăng cao. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn làm gián đoạn việc học và dễ bùng phát thành các ổ dịch trong trường học.
- Miễn dịch suy giảm theo thời gian ở tuổi vị thành niên
Ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên, khả năng bảo vệ của một số vắc xin đã tiêm từ nhỏ có thể suy giảm theo thời gian nếu không được tiêm nhắc lại. Bên cạnh đó, việc học tập, sinh hoạt tập thể, tham gia nhiều hoạt động xã hội và di chuyển thường xuyên cũng làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh.

Đặc điểm của 16 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp
Trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi, có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện nên dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn người lớn. Nhiều bệnh có thể lây lan nhanh tại gia đình, trường học hoặc nơi đông người, gây các triệu chứng từ nhẹ đến nặng, thậm chí dẫn đến biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Dưới đây là 16 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp, cùng đặc điểm nhận biết và biện pháp phòng ngừa.
1. Bệnh cúm
Cúm là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp, với tỷ lệ tái phát và triệu chứng kéo dài hơn so với người trưởng thành. Cúm do virus Influenza gây nên. Có 3 tuýp virus cúm gây bệnh ở người gồm: A, B, C. Trong đó, cúm A/H1N1, A/H3N2 được xem là 2 phân tuýp virus cúm lưu hành phổ biến. Khác với virus cúm A, cúm B không phân tuýp nhưng lại có 2 dòng đặc tính khác nguyên khác biết là B/Yamagata và B/Victoria lưu hành ở người. Ngoài ra, virus cúm C thường gây ra các ca bệnh rải rác, không gây dịch lớn.
Phương thức lây truyền
Cúm lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, qua các giọt bắn chứa virus khi bệnh nhân nói chuyện, ho hoặc hắt hơi. Cúm lây truyền nhanh, mạnh ở môi trường đông người, trong điều kiện thời tiết ẩm thấp.
Triệu chứng
Người bệnh cúm thường sốt vừa đến cao, có cảm giác ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt mệt mỏi toàn thân, đau cơ,... ngoài ra, bệnh nhân còn có triệu chứng ho nặng và kéo dài, đặc biệt trẻ em mắc cúm kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa như nôn, tiêu chảy. Đây là đặc điểm của bệnh truyền nhiễm ở trẻ em do bệnh cúm gây ra.
Biến chứng
Cúm có thể dẫn đến viêm phổi, viêm phế quản, viêm tai, viêm não hay thậm chí tử vong.
⇒ Xem thêm: Bệnh cúm ở trẻ em nguy hiểm như thế nào?

2. Viêm đường hô hấp trên
Bệnh truyền nhiễm ở trẻ em cũng có thể xảy ra ở đường hô hấp trên, bộ phận này bao gồm mũi, hầu, họng, xoang và thanh quản với nhiệm vụ lấy không khí từ ngoài cơ thể sau đó đưa vào phổi. Các cơ quan đường hô hấp trên tiếp xúc trực tiếp với không khí và môi trường bên ngoài nên rất dễ viêm nhiễm. Tùy vào cơ quan bị nhiễm trùng, sẽ có các tên gọi khác nhau như viêm họng, viêm thanh quản, viêm amidan, viêm xoang,...
Nguyên nhân gây bệnh
Viêm đường hô hấp trên ở trẻ có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm: virus cúm, virus Adeno, Rhinovirus, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, nấm,... Ở trẻ em, viêm đường hô hấp trên chủ yếu do virus gây ra.
Triệu chứng
Triệu chứng viêm đường hô hấp trên thường đa dạng, như sốt, ho từng cơn, ho khan, ho không đờm hoặc có đờm, nghẹt mũi, sổ mũi, đau rát họng, đau đầu, mệt mỏi, khàn tiếng, chán ăn, khó thở, khò khè.
Biến chứng
Viêm đường hô hấp trên có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như viêm phổi, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm màng não, nhiễm trùng máu, viêm cơ tim… Tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh viêm đường hô hấp trên cũng thường cao hơn so với các bệnh đường hô hấp khác.
3. Viêm phổi do phế cầu
Bệnh viêm phổi do phế cầu cũng là một trong những bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Phế cầu khuẩn thường cư trú ở vùng mũi, họng và đường thở ở người. Trẻ em là nhóm đối tượng dễ bị tấn công bởi phế cầu khuẩn. Hằng năm trên thế giới có khoảng 500.000 trẻ em tử vong bởi các bệnh do phế cầu, như viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết,...
Phương thức lây truyền
Phế cầu khuẩn lây truyền từ người sang người qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc trực tiếp.
Triệu chứng
Tùy theo từng thể bệnh do phế cầu khuẩn sẽ có những triệu chứng khác nhau:
- Viêm phổi: Người bệnh viêm phổi do phế cầu khuẩn thường ho nhiều, sốt cao, ớn lạnh, vã mồ hôi, đau ngực, đau cơ, quấy khóc, bỏ bú, thở nhanh,... Các triệu chứng dễ nhầm lẫn với các bệnh cảm, cúm thông thường nên ba mẹ thường bỏ qua không sớm đưa trẻ đến bệnh viện, dẫn đến chậm trễ trong điều trị.
- Viêm màng não: được xem là bệnh nguy hiểm nhất gây ra do phế cầu. Thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, cứng cổ, giảm trương lực cơ, thóp phồng ở trẻ nhũ nhi, trẻ khóc khi thay đổi tư thế... dù điều trị khỏi cũng có khả năng để lại những di chứng lâu dài ở người bệnh.
- Viêm tai giữa: thường gặp ở trẻ nhỏ từ 6-18 tháng tuổi, do vi khuẩn phế cầu di chuyển lên tai thông qua vòi nhĩ gây viêm, đau tai, đọng dịch mủ, sốt, khó ngủ…
- Nhiễm khuẩn huyết: Tỷ lệ tử vong nhiễm khuẩn huyết do phế cầu thường lên đến 20% số ca mắc. Người bệnh nhiễm khuẩn huyết do phế cầu xâm nhập vào máu, gây sốc. Triệu chứng nhiễm khuẩn huyết bao gồm sốt cao đột ngột, lạnh run, nhịp tim nhanh, giảm lượng nước tiểu, rối loạn đông máu…
Biến chứng
Các bệnh do phế cầu khuẩn thường có nguy cơ diễn tiến nặng và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Ngoài ra, trẻ còn có thể chịu di chứng lâu dài của bệnh, điển hình như trẻ mắc viêm màng não có thể điếc, mù, liệt, động kinh, chậm phát triển trí tuệ, đau đầu kéo dài, trí nhớ kém.

4. Ho gà
Ho gà có thể gặp ở mỗi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh có khả năng lây lan cao, một người mắc ho gà có thể lây cho 12-17 người. Đây cũng là một trong những bệnh truyền nhiễm ở trẻ em.
Phương thức lây truyền
Ho gà là bệnh lây truyền qua đường hô hấp, do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với dịch tiết mũi, họng người bệnh khi ho hoặc hắt hơi. Bệnh lây truyền mạnh nhất trong không gian sinh hoạt khép kín như các hộ gia đình, trường học, khu dân cư, công ty xí nghiệp...
Triệu chứng
Bệnh ho gà giai đoạn sớm, người bệnh thường không sốt hoặc sốt nhẹ. Người bệnh có thể mệt mỏi, chán ăn, ho, viêm long đường hô hấp trên. Cơn ho gà diễn tiến ngày càng nặng, kịch phát trong vòng 1-2 tuần, có thể kéo dài 1-2 tháng hoặc lâu hơn.
Khác với triệu chứng ho do các nguyên nhân khác, ho gà thường đặc trưng bởi những cơn ho rũ rượi từng cơn liên tục, sau đó thở rít nghe như tiếng gà gáy, cuối cơn ho thường chảy nhiều đờm dãi trong suốt và sau đó là nôn.
Biến chứng
Ho gà có thể dẫn đến hàng loạt biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm phế quản, ngừng thở, thoát vị trực tràng, sa trực tràng, tràn khí màng phổi, viêm não.

⇒ Xem thêm: Bệnh ho gà ở trẻ em
5. Lao
Lao (hay TB) là bệnh nhiễm trùng do vi trùng lao gây nên. Tất cả các bộ phận trên cơ thể đều có thể mắc lao, như lao màng não, lao màng phổi, lao hạch bạch huyết, lao xương, lao màng bụng. Trong đó chiếm 80%-85% các trường hợp là lao phổi và là nguồn lây bệnh chính cho mọi người. Thế nên lao cũng là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. (2)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 9 triệu người mắc bệnh lao, 3 triệu người trong số đó không được điều trị y tế. Lao có triệu chứng kéo dài dai dẳng trong nhiều tháng, với khả năng lây truyền cao. 1 người lao phổi có thể lây truyền bệnh cho 15 người khác.
Phương thức lây truyền
Người khỏe mạnh có thể bị lây nhiễm lao khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc gián tiếp khi tiếp xúc các chất thải chứa vi trùng lao. Vi khuẩn lao nằm trong các hạt nước bọt li ti hoặc trong các hạt bụi nhỏ, nên dễ dàng bị hít vào và gây bệnh tại phổi. Vi trùng lao có thể đi từ phổi, qua máu, gây bệnh ở các tạng khác trong cơ thể.
Triệu chứng
Khi xuất hiện các triệu chứng này, người bệnh hãy nghĩ ngay đến bệnh lao, từ đó đến bệnh viện gần nhất để được chẩn đoán và có phác đồ điều trị phù hợp: ho kéo dài trên 2 tuần, mệt mỏi, kén ăn, gầy sút, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm ban đêm, đau ngực, khó thở.
Biến chứng
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, lao có thể dẫn đến biến chứng và di chứng cho người bệnh. Các biến chứng của bệnh lao như ho ra máu, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi. Di chứng như suy hô hấp mãn tính, giãn phế quản, u nấm phổi.
⇒ Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về 10 bệnh hô hấp ở trẻ em.

6. Bạch hầu
Bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, có khả năng xuất hiện ở da và các vùng niêm mạc khác như mắt hoặc bộ phận sinh dục. Ở trẻ em, bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng. Khi mắc bệnh sẽ làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên, thần kinh cảm giác, viêm cơ tim. Tỷ lệ tử vong do bạch hầu thanh quản ở trẻ em là 5%-10%. Thế nên đây cũng là một bệnh truyền nhiễm ở trẻ em nguy hiểm.
Tại Việt Nam, khi chưa có vắc xin phòng bệnh bạch hầu, bệnh thường gây nhiều ổ dịch ở hầu hết các tỉnh, tập trung nhiều ở những thành phố lớn có dân cư đông đúc. Từ khi có vắc xin, bệnh bạch hầu đã giảm từ 3,95/100.000 dân (1985) xuống 0,14/100.000 (2000), dù vậy các ca bệnh và ổ dịch bạch hầu vẫn còn rải rác trong cộng động vì tỷ lệ tiêm chủng vắc xin chưa cao, đặc biệt là các khu vực vùng sâu vùng xa.
Phương thức lây truyền
Bạch hầu là bệnh lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với người mang vi khuẩn bạch hầu. Ngoài ra, bệnh còn có thể lây truyền khi người lành tiếp xúc với đồ vật có chất bài tiết của người nhiễm vi khuẩn.
Triệu chứng
Các triệu chứng phổ biến khi nhiễm bạch hầu bao gồm: Viêm họng, mũi, viêm thanh quản, họng đỏ, nuốt đau, người mệt mỏi, nổi hạch dưới hàm, sưng đau vùng cổ. Khi thăm khám lâm sàng có giả mạc tuyến hạnh nhân. Đặc trưng của giả mạc bạch hầu thường trắng ngà hoặc màu xám, dính chặt vào tổ chức viêm. Niêm mạc xung quanh giả mạc thường ở trạng thái xung huyết.
Biến chứng
Bạch hầu thường diễn tiến rất nhanh với tỷ lệ tử vong cao. Người mắc bạch hầu có thể gặp biến chứng tắc nghẽn đường hô hấp, viêm cơ tim, viêm đa dây thần kinh, suy tim, liệt cơ hô hấp, hôn mê và tử vong.
7. Sởi
Sởi thường được xem là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em, tuy nhiên bất kỳ ai chưa có miễn dịch với virus sởi do chưa tiêm phòng hoặc suy giảm miễn dịch cũng có thể mắc bệnh. Tại Việt Nam, sởi thường bùng phát thành dịch vào mùa đông xuân, với tỷ lệ tử vong là 0,7%. Năm 2022, dịch sởi có nguy cơ bùng phát trở lại tại thành phố Hồ Chí Minh, khi tỷ lệ tiêm chủng đạt 5,3%, thấp hơn so với mức tối thiểu là 95%.
Phương thức lây truyền
Virus sởi tồn tại trong mũi, cổ họng của người bệnh và lây truyền qua đường hô hấp khi ho hoặc hắt hơi. Trong môi trường không khí bình thường, virus có khả năng tồn tại lên đến 2 giờ, làm tăng nguy cơ mắc sởi dù không tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.
Triệu chứng
Sởi khởi phát với triệu chứng sốt nhẹ, thân nhiệt tăng dần, người bệnh có các triệu chứng khác như ho, chảy nước mũi, đau mắt đỏ, tiêu chảy. Vào ngày thứ 2 của bệnh xuất hiện các hạt trắng trên niêm mạc miệng hay còn được gọi là hạt Koplik. Các hạt này chỉ tồn tại trong vòng 12-14 giờ.
Vào ngày thứ 4 cho đến thứ 6 xuất hiện các phát ban dạng dát sẩn, mọc tuần tự từ sau tai, lan dần ra 2 bên má, lan xuống ngực, bụng, tay, lưng và chân. Sau khi các nốt ban nổi khắp toàn thân sẽ tồn tại đến ngày thứ 6 từ khi phát bệnh rồi biến mất dần theo thứ tự xuất hiện.
Biến chứng
Sởi có thể lây nhiễm tế bào biểu mô đường hô hấp dưới, phá hủy khả năng miễn dịch tại chỗ của phổi dẫn đến viêm phổi cấp tính và suy hô hấp tiến triển. Vào ngày thứ 4 phát ban, trẻ có thể bị viêm phổi bội nhiễm với các nguyên nhân khác như phế cầu khuẩn, E.Coli. Với những trẻ suy giảm miễn dịch có thể bị viêm phổi kẽ, dẫn tới sẹo ở mô phổi, gây suy hô hấp.
⇒ Xem thêm: Phòng tránh bệnh sởi ở trẻ em

8. Quai bị
Quai bị ở trẻ em còn được biết đến là bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai, hay gặp ở lứa tuổi học đường và thường gây ra các ổ dịch ở các trường học, trường mẫu giáo. Đây cũng là một trong những bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp.
Bệnh thường gặp vào mùa đông xuân. Trẻ dưới 2 tuổi và người cao tuổi ít khi mắc bệnh. Một khi đã mắc bệnh, bệnh nhân có miễn dịch bền vững và hiếm khi tái phát.
Phương thức lây truyền
Bệnh quai bị lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp khi nói chuyện với người bệnh hoặc dùng chung các đồ vật bị nhiễm dịch mũi, họng do bệnh nhân tiết ra.
Triệu chứng
Bệnh nhân quai bị thường bị sốt, đau đầu, sưng đau tuyến nước bọt dưới hàm, đau cơ. Quai bị có thể khỏi dần sau 7-10 ngày nếu không có biến chứng.
Biến chứng
Một số biến chứng bệnh nhân quai bị có thể gặp bao gồm: tổn thương thần kinh, viêm não, viêm màng não, điến hay giảm thị lực. Ngoài ra, quai bị còn có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của trẻ sau này, gây viêm tinh hoàn ở bé trai, hay viêm buồng trứng ở bé gái dẫn đến nguy cơ vô sinh.
⇒ Ngoài ra: Bạn có thể xem thêm: Mẹo điều trị quai bị ở trẻ em

9. Rubella
Rubella (hay Sởi Đức) thường không gây ảnh hưởng nghiêm trọng với những người mắc bệnh bình thường. Tuy nhiên, với đối tượng phụ nữ mang thai, Rubella đặc biệt nguy hiểm vì có thể gây dị tật thai nhi. Đây là căn bệnh không phổ biến nhưng cũng là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em.
Phương thức lây truyền
Rubella lây truyền qua đường hô hấp, khi người lành tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi họng bệnh nhân hoặc qua các hạt nước bọt của bệnh nhân khuếch tán trong không khí. Trẻ mắc hội chứng rubella bẩm sinh sẽ đào thải virus qua dịch tiết hầu họng hoặc nước tiểu, là nguồn lây bệnh cho những người tiếp xúc.
Triệu chứng
Sốt, phát ban, đau khớp, nổi hạch to sau tai, cổ và dưới chẩm.
Biến chứng
Rubella ở thai phụ có thể gây sảy thai, thai chết lưu, sinh non, trẻ dị tật bẩm sinh hay còn được gọi là hội chứng rubella bẩm sinh với hàng loạt hệ lụy như điếc, bệnh tim bẩm sinh, đục thủy tinh thế, tật mắt nhỏ, đầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ
10. Thủy đậu
Thủy đậu thường xảy ra quanh năm và tăng cao hơn từ tháng 2 đến tháng 6. Bệnh có thể gặp cả ở trẻ em và người lớn, thường lành tính. Bệnh nhân có thể hồi phục sau khoảng 2 tuần. Tuy nhiên, nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trẻ em, người có hệ miễn dịch yếu có tỷ lệ biến chứng và tử vong cao hơn nếu mắc bệnh. Đây cũng là một bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường mắc phải.
Phương thức lây truyền
Thủy đậu có khả năng lây lan cao, lên đến 90% ở những người chưa mắc bệnh hoặc chưa có miễn dịch nhờ vắc xin. Thủy đậu lây qua đường hô hấp và tiếp xúc với dịch phỏng từ mụn nước của người bệnh.
Virus tồn tại trong dịch tiết mũi họng của người bệnh và lây cho người khác thông qua nói chuyện, ho, hắt hơi. Bệnh còn có thể lây khi người khỏe mạnh vô tình tiếp xúc với bề mặt, đồ dùng cá nhân của người bệnh có nhiễm chất tiết từ mụn nước thủy đậu sau đó chạm vào mắt, mũi, miệng.
Ngoài ra, phụ nữ mang thai nếu mắc thủy đậu có thể lây truyền cho thai nhi qua nhau thai hoặc lây nhiễm sau khi sinh nở.
Triệu chứng
Dấu hiệu nhận biết đặc trưng của thủy đậu ở trẻ em là phát ban, nổi mụn nước nhỏ chứa đầy dịch, gây ngứa. Trong vài ngày, các mụn nước sẽ vỡ ra và rỉ nước, sau đó đóng vảy trước khi lành lại. Các triệu chứng thường xuất hiện từ 10 đến 21 ngày sau khi tiếp xúc với người nhiễm virus.
Biến chứng
Thủy đậu có thể dẫn đến các biến chứng như: nhiễm trùng da, nhiễm trùng huyết, viêm phổi, tổn thương thần kinh, viêm gan, viêm cơ tim, viêm mạch máu, viêm khớp, viêm tinh hoàn…
Ở phụ nữ mang thai, mắc thủy đậu sẽ dẫn đến viêm phổi và tử vong. Mắc thủy đậu ở tuần thai 13-20 dễ dẫn đến dị dạng thai, thai chết lưu. Nếu thai phụ mắc thủy đậu ở 3 tháng cuối, trẻ sinh ra có nguy cơ tử vong cao tới 30%.
Ngoài ra, dù khỏi bệnh, virus Varicella Zoster vẫn trú lại trong tế bào thần kinh nhiều năm và gây bệnh Zona thần kinh sau này hay còn gọi là giời leo.
⇒ Ngoài ra, bạn có thể xem thêm bài viết 8 cách chữa bệnh thuỷ đậu ở trẻ em nhanh khỏi và an toàn

11. Tay chân miệng
Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em do nhiều virus gây nên, có khả năng lây từ người sang người, tạo ra những ổ dịch lớn. Trẻ dưới 5 tuổi là nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất bởi hệ miễn dịch chưa hoàn thiện.
Đa phần, trẻ mắc bệnh tay chân miệng thường diễn tiến nhẹ, nhưng nếu không được điều trị kịp thời, đúng cách có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm ở não, tim và phổi, thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
Phương thức lây truyền
Bệnh tay chân miệng có thể lây truyền qua các hình thức sau:
- Tiếp xúc dịch tiết mũi họng của người bệnh;
- Tiếp xúc với chất lỏng trong mụn nước;
- Hít phải các giọt hô hấp trong không khí;
- Tiếp xúc chất thải người bệnh;
- Tiếp xúc với các vật dụng nhiễm virus từ người bệnh rồi đưa tay lên mắt, mũi miệng.
Triệu chứng
Các triệu chứng đặc trưng của bệnh tay chân miệng có thể nhận biết qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn ủ bệnh: sau khi mắc bệnh 3-7 ngày đầu tiên, trẻ chưa xuất hiện triệu chứng cụ thể.
- Giai đoạn khởi phát: Trẻ khởi phát bệnh với các dấu hiệu như mệt mỏi, sốt nhẹ, biếng ăn, tiêu chảy, đau họng.
- Giai đoạn toàn phát: có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh như vết loét đỏ hay phỏng nước ở niêm mạc miệng, lưỡi khiến bé biếng ăn, đau đớn;
- Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau giai đoạn toàn phát. Nếu được điều trị đúng cách, trẻ phục hồi hoàn toàn mà không có biến chứng.
Biến chứng
Trong đa số trường hợp, trẻ có thể phục hồi hoàn toàn, tuy nhiên không phải vì vậy mà coi thường bệnh tay chân miệng, tự điều trị tại nhà dẫn đến sai cách, tăng nguy cơ biến chứng của bệnh.
Tay chân miệng có thể gây các biến chứng thần kinh nghiêm trọng như viêm màng não do virus, viêm não, liệt chi. Ngoài ra bệnh còn có thể gây viêm cơ tim, phù phổi cấp và dẫn đến tử vong trong một số trường hợp.
12. Tiêu chảy cấp
Tiêu chảy cấp khiến bé đi tiêu khoảng hơn 3 lần/ ngày. Đây cũng được coi là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Lượng dịch trong phân bé thay đổi, phân lỏng như nước, một số trường hợp còn có thể lẫn đờm máu.
Khi gặp tình trạng tiêu chảy cấp, bé cần được đưa đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị đúng cách vì đây có thể là bệnh hoặc một triệu chứng của các vấn đề về tiêu hóa.
Nguyên nhân
Trẻ bị tiêu chảy cấp có thể do nhiều nguyên nhân như:
- Virus như Rotavirus, Astroviruses, Adenoviruses, Noroviruses, Caliciviruses, Norwalk Virus, Parvoviruses… Trong đó Rotavirus được xem là nguyên nhân gây tiêu chảy cấp phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi;
- Vi khuẩn như thương hàn, lỵ trực khuẩn, E.Coli, Bacillus, Campylobacter jejuni…
- Ký sinh trùng như Entamoeba histolytica, Giardia lamblia, Cryptosporidium…
- Ngoài ra, tiêu chảy cấp còn do nhiễm trùng ngoài ruột, dị ứng thức ăn, tác dụng phụ của thuốc, hóa trị, suy giảm miễn dịch, thiếu vitamin,...
Mỗi loại tác nhân gây bệnh có phương thức lây truyền khác nhau.
Triệu chứng
Triệu chứng điển hình của tiêu chảy cấp tính ở trẻ là đi ngoài phân lỏng với tần suất nhiều hơn bình thường. Ở trẻ sơ sinh, tần suất đi phân lỏng có thể dao động khoảng 3 đến 10 lần/ ngày. Phân màu xanh lá, vàng hoặc nâu, có hạt trắng lẫn trong phân. Bé bú sữa mẹ sẽ đi phân lỏng, tần suất đi nhiều hơn so với bé uống sữa công thức. Ở trẻ trên 1 tuổi tần suất đi tiêu 1-2 lần ngày, phân mềm và thành khuôn. Ngoài ra bé còn có những triệu chứng như quấy khóc, mệt mỏi, sốt, đau bụng, buồn nôn và nôn.

Biến chứng
Cần đưa bé đến bệnh viện càng sớm càng tốt ngay khi có triệu chứng nghi ngờ tiêu chảy cấp, tránh kéo dài không điều trị hoặc tự điều trị sai sách, có thể dẫn đến rối loạn điện giải, mất nước nghiêm trọng, gây nguy hiểm sức khỏe, tính mạng của trẻ.
⇒ Xem thêm: 10 cách cầm và trị tiêu chảy tại nhà nhanh nhất cho bé.
13. Bệnh do Rotavirus
Trẻ mắc tiêu chảy do virus Rota ít nhất 1 lần trong 5 năm đầu đời. Tại Việt Nam, đa số các trường hợp tiêu chảy do virus Rota ở độ tuổi từ 3 – 17 tháng. Bệnh là một trong những nguyên nhân hàng đầu của các ca nhập viện và có khả năng gây tử vong ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Đây cũng là một trong những bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp.
Phương thức lây truyền
Virus Rota lây truyền qua đường phân miệng, có thể lây truyền theo đường tiếp xúc.
Triệu chứng
Tiêu chảy do virus Rota thường gặp ở trẻ nhỏ với các triệu chứng sốt nhẹ, nôn, tiêu chảy. Trẻ nôn trước khi tiêu chảy khoảng 6-12 giờ và có thể kéo dài 2-3 ngày. Trẻ thường nôn rất nhiều vào ngày đầu mắc bệnh và giảm bớt khi bắt đầu tiêu chảy. Phân lỏng toàn nước, có lúc có màu xanh, có thể có đờm, nhớt nhưng không có máu. Đây là đặc điểm quan trọng để chẩn đoán phân biệt với tiêu chảy do vi khuẩn. Tiêu chảy tăng trong vài ngày, có thể kèm triệu chứng đau bụng, ho, chảy nước mũi, sau đó giảm dần từ 3 đến 9 ngày.
Biến chứng
Tiêu chảy liên tục, mất nước nặng.
14. Bại liệt
Bại liệt cũng có thể coi là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Đây là bệnh truyền nhiễm do virus Polio gây ra, có khả năng bùng phát thành dịch. Trước khi có vắc xin, bệnh bại liệt xuất hiện và tạo thành nhiều vụ dịch ở hầu hết các châu lục. Tại Việt Nam, trước khi có vắc xin, bại liệt từng gây ra các vụ dịch lớn vào năm 1957-1959, với tỷ lệ mắc bệnh năm 1959 là 126,4/100.000 dân.
Sau khi có vắc xin, tỷ lệ mắc và tử vong của bệnh đã giảm đáng kể. Đến năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố Việt Nam thành công trong việc thanh toán bệnh bại liệt trên toàn quốc.
Phương thức lây truyền
Bại liệt lây từ người sang người chủ yếu theo đường phân miệng. Virus từ phân người bệnh làm ô nhiễm nguồn nước, thực phẩm, rồi xâm nhập vào cơ thể người theo đường tiêu hóa. Bại liệt còn có thể lây truyền khi tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm virus. Bệnh có khả năng lây truyền từ 7-10 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng.
Triệu chứng
Bại liệt có triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào các thể bệnh:
- Thể liệt mềm cấp điển hình: Sốt, buồn nôn, tiêu chảy, đau họng, đau đầu, đau cơ, mất dần vận động dẫn đến liệt không đối xứng, liệt mềm đột ngột ở tay hoặc chân. Liệt ở chi không hồi phục gây khó vận động hoặc mất vận động. Liệt hành tủy dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
- Thể viêm màng não vô khuẩn: với các triệu chứng như sốt, đau đầu, đau cơ, cứng gáy.
- Thể nhẹ: đau đầu, buồn nôn, nôn, táo bón, sốt, khó ngủ. Người bệnh có thể phục hồi trong vài ngày.
- Thể ẩn: Không rõ triệu chứng, là thể thường gặp.
Biến chứng
Di chứng liệt và tử vong cho người bệnh.

15. Sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết ở trẻ em vô cùng nguy hiểm với đặc điểm là sốt, xuất huyết có thể dẫn đến sốc, rối loạn đông máu, suy tạng,... nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Sốt xuất huyết hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Khi có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh, ba mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện để được chẩn đoán chính xác và xử trí kịp thời ngăn chặn nguy cơ biến chứng, tử vong. Vì thế đây được xem là một trong những bệnh truyền nhiễm ở trẻ em nguy hiểm nhất.
Phương thức lây truyền
Sốt xuất huyết có thể lây truyền từ người này sang người khác khi bị muỗi vằn mang mầm bệnh đốt. Virus gây bệnh sốt xuất huyết gồm 4 loại với 4 tuýp huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4.
Triệu chứng
Trẻ mắc sốt xuất huyết biểu hiện triệu chứng qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn sốt: Trẻ sốt cao đột ngột và sốt liên tục. Trẻ nhỏ thường quấy khóc, trẻ lớn đau đầu, chán ăn, buồn nôn, có chấm xuất huyết dưới da, đau cơ, khớp, nhức 2 hốc mắt, chảy máu chân răng, chảy máu cam.
- Giai đoạn nguy hiểm: Sau sốt 3-7 ngày, cơn sốt bắt đầu thuyên giảm, trẻ bị thoát huyết tương. Nếu thoát huyết tương nặng sẽ dẫn tới sốc với biểu hiện vật vã, lờ đờ, bứt rứt, lạnh đầu chi, tụt hoặc không thể đo được huyết áp.
- Giai đoạn phục hồi: sau giai đoạn nguy hiểm từ 48 đến 72 giờ, trẻ hết sốt, bắt đầu thèm ăn, huyết áp ổn định và tiểu nhiều hơn.
Biến chứng
Các biến chứng sốt xuất huyết có thể gặp như: sốt xuất huyết giảm tiểu cầu, sốt xuất huyết đông máu. Nguy hiểm hơn, người bệnh còn bị tụt huyết áp, đau đầu, suy tim, suy thận, sốc do mất máu, suy đa tạng, xuất huyết não, tràn dịch màng phổi, hôn mê, sinh non, sảy thai (ở thai phụ), gặp các biến chứng về mắt.
16. Giun sán
Trẻ em hiếu động, hay đưa tay bẩn lên miệng nên rất dễ nhiễm giun sán. Đây cũng là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em thường gặp. Hiện có hơn 100 loại giun tròn và hơn 140 loại sán có khả năng lây truyền bệnh cho người.
Hầu hết các bệnh do giun sán không gây được miễn dịch bảo vệ, nên người bệnh vẫn có thể bị tái nhiễm. Nhiễm giun sán đe dọa sức khỏe, khả năng học tập và tinh thần của trẻ.
Phương thức lây truyền
Trẻ có thể nhiễm giun sán thông qua đường ăn uống do thức ăn không sạch sẽ, vệ sinh hoặc chưa được làm chín kỹ; uống nước chưa đun sôi hoặc nguồn nước không đảm bảo được vệ sinh.
Trẻ thường xuyên đưa tay, đồ vật bẩn vào miệng, cầm thức ăn sau khi đi đại tiện mà không rửa tay hoặc người lớn không rửa tay khi chuẩn bị thức ăn cho bé cũng làm tăng nguy cơ trẻ nhiễm giun sán.
Triệu chứng
Tùy theo từng loại giun sán trẻ nhiễm, mà có những triệu chứng gây bệnh khác nhau, nhưng nhìn chung có một số triệu chứng dễ nhận thấy bao gồm: Đau bụng, nôn, chán ăn, tiêu chảy, đi phân mỡ, phân đen, quấy khóc, khó ngủ,...
Biến chứng
Nhiễm giun sán có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như: thiếu máu, tắc ruột, viêm tắc mật, áp xe gan, viêm não, màng não, suy dinh dưỡng...
Trong đó, suy dinh dưỡng, thiếu máu có thể ảnh hưởng lớn đến thể chất và tinh thần trẻ. Trẻ không đủ sức khỏe đi học và cũng trở nên kém tập trung hơn do tác hại của bệnh.
⇒ Bạn có thể xem để hiểu thêm về bệnh: Nhiễm giun: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và cách phòng ngừa.

Hướng dẫn phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em
Phần lớn các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em đều có thể phòng ngừa hiệu quả nếu áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Cha mẹ nên chủ động bảo vệ trẻ bằng những cách sau:
1. Tiêm ngừa đầy đủ và đúng lịch
Tiêm chủng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là phương pháp phòng bệnh truyền nhiễm ở trẻ em chủ động và hiệu quả nhất. Khoảng 85%-95% người được tiêm chủng sẽ tạo ra được miễn dịch đặc hiệu bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh, biến chứng, tử vong. Nhờ có vắc xin mà hơn 2,5 mỗi năm tránh khỏi nguy cơ tử vong do bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Trẻ khỏe mạnh, không mắc bệnh, không bị di chứng, phát triển thể chất và trí não bình thường, đảm bảo khả năng học tập, không bị tàn phế hay mất khả năng lao động trong tương lai. (3)
Nếu không được tiêm chủng đầy đủ hay tiêm chủng muộn sẽ rất nguy hiểm cho trẻ, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh chưa có miễn dịch bảo vệ. Thực tế cho thấy, ở một số thời điểm, tại một số nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp đã bùng phát nhiều ổ dịch nghiêm trọng như dịch bạch hầu, sởi, ho gà, viêm não Nhật bản,... cướp đi nhiều mạng sống của trẻ.
Danh mục vắc xin/sinh phẩm cần tiêm cho trẻ để phòng bệnh truyền nhiễm
| STT | Phòng bệnh | Tên vắc xin/sinh phẩm | Nhóm tuổi | Đăng ký tiêm vắc xin |
| 1 | Các hình thái lao nguy hiểm, trong đó có lao viêm màng não với độ bảo vệ lên tới 70% | Ivactuber (BCG) | Trẻ có cân nặng từ 2.000 gram trở lên và tiêm càng sớm càng tốt trong 30 ngày sau khi sinh. | TẠI ĐÂY |
| 2 | Viêm phổi, viêm tiểu phế quản do virus hợp bào hô hấp RSV | Kháng thể đơn dòng Beyfortus (Nirsevimab) | Trẻ sơ sinh đến 24 tháng tuổi | TẠI ĐÂY |
| 3 | Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm màng não mủ, viêm phổi do Hib, viêm gan B | Infanrix Hexa (Bỉ) | Trẻ từ 6 tuần tuổi đến 2 tuổi | TẠI ĐÂY |
| Hexaxim (Pháp) | TẠI ĐÂY | |||
| 4 | Sốt xuất huyết | Qdenga (Takeda) | Trẻ từ 4 tuổi trở lên và người lớn | TẠI ĐÂY |
| 5 | Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu nhóm B | Bexsero (Ý) | Trẻ từ 2 tháng tuổi trở lên và người lớn dưới 50 tuổi | TẠI ĐÂY |
| 6 | Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu nhóm A,C,Y,W-135 gây ra | MenQuadfi (Mỹ) | Trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên và người lớn. | TẠI ĐÂY |
| Nimenrix (Bỉ) | Trẻ em từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn. | TẠI ĐÂY | ||
| 7 | Thủy đậu | Varilrix (Bỉ) | Trẻ từ 9 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY |
| Varivax (Mỹ) | Trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY | ||
| 8 | Viêm não Nhật Bản | Imojev (Nhật Bản) | Trẻ từ 9 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY |
| Jevax (Việt Nam | Trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY | ||
| 9 | Cúm | Vaxigrip (Pháp) | Trẻ từ 6 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY |
| Influvac Tetra (Hà Lan) | TẠI ĐÂY | |||
| Ivacflu-S 0.5ml (Việt Nam) | TẠI ĐÂY | |||
| 10 | Phòng bệnh viêm phổi, viêm màng não, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết… do phế cầu khuẩn | Synflorix (Bỉ) | Trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và trước sinh nhật lần thứ 6 | TẠI ĐÂY |
| Prevenar 13 (Bỉ) | Trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn | TẠI ĐÂY | ||
| Vaxneuvance (Ireland) | TẠI ĐÂY | |||
| Prevenar 20 (Bỉ) | Người từ 18 tuổi trở lên | TẠI ĐÂY | ||
| Pneumovax 23 (Mỹ) | Trẻ em từ 2 tuổi trở lên, thanh thiếu niên và người lớn | TẠI ĐÂY | ||
| 11 | Tiêu chảy cấp do Rotavirus | Rotarix (Bỉ) | Trẻ từ 6 tuần tuổi (hoàn thành phác đồ muộn nhất 6 tháng tuổi) | TẠI ĐÂY |
| Rotateq (Mỹ) | Trẻ từ 6 tuần tuổi (hoàn thành phác đồ muộn nhất trước 32 tuần) | TẠI ĐÂY | ||
| 12 | Sởi | MVVac (Việt Nam) | Trẻ từ 9 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY |
| 13 | Sởi - Quai bị - Rubella | Priorix (Bỉ) | Trẻ từ 9 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY |
| MMR-II (Mỹ) | Trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn | TẠI ĐÂY | ||
| 14 | Sởi - Quai bị - Rubella - Thủy đậu | ProQuad (Mỹ) | Trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên và người lớn | TẠI ĐÂY |
| 15 | Thương hàn | Typhim VI (Pháp) | Trẻ từ 2 tuổi trở lên và người lớn | TẠI ĐÂY |
| Typhoid Vi (Việt Nam) | ||||
| 16 | Tả | mOrcvax (Việt Nam) | Trẻ từ 2 tuổi trở lên và người lớn | TẠI ĐÂY |

Hệ thống trung tâm tiêm chủng VNVC với hàng trăm trung tâm tiêm chủng chất lượng cao trải dài khắp đất nước luôn đảm bảo cung ứng đầy đủ các loại vắc xin cần thiết cho trẻ em và người lớn. Vắc xin tại VNVC được nhập khẩu chính hãng từ các hãng sản xuất lớn trong và ngoài nước.
Trong suốt quá trình nhập khẩu, vận chuyển, bảo quản cho đến khi được đưa vào sử dụng, vắc xin được bảo quản trong hệ thống kho lạnh chuẩn quốc tế, ở nhiệt độ 2-8 độ C theo đúng yêu cầu từ nhà sản xuất, đảm bảo được chất lượng vắc xin và sự an toàn cho người sử dụng.
⇒ Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo ở bài viết này: Lịch tiêm chủng cho bé theo từng tháng tuổi đầy đủ và mới nhất
2. Giữ vệ sinh cá nhân cho trẻ và dạy cho trẻ thói quen vệ sinh
Trẻ có bản tính hiếu động, dễ dàng tiếp xúc với bụi bẩn mang theo vi khuẩn, virus và các vi sinh vật từ đó gây ra bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Ba mẹ cần dạy trẻ cách vệ sinh đúng cách như thế nào?
Đầu tiên là thói quen rửa tay thường xuyên. Tay là bộ phận tiếp xúc nhiều nhất với môi trường xung quanh, mang theo mầm bệnh và xâm nhập cơ thể qua mắt, mũi, miệng. Ba mẹ nên tập thói quen cho trẻ vệ sinh tay thường xuyên sau khi chạm vào thức ăn, sau khi đi vệ sinh, từ bên ngoài về nhà, sau dọn dẹp nhà cửa, vui chơi cùng vật nuôi,...
Ngoài ra, trẻ nên tắm tối thiểu 1 ngày/ lần, làm sạch các bộ phận khác nhau trên cơ thể bằng xà phòng và vệ sinh răng miệng tối thiểu 2 lần mỗi ngày sáng và tối.
3. Môi trường sống cần sạch sẽ và trong lành
Môi trường có quan hệ mật thiết với sức khỏe con người. Môi trường sống trong lành, sạch sẽ giúp cải thiện sức khỏe, phòng nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Đặc biệt là bệnh truyền nhiễm ở trẻ em.
Theo thống kế của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, có đến 9.000 ca tử vong vong mỗi năm do sử dụng nguồn nước nhiễm khuẩn và vệ sinh kém, 44% trẻ em bị nhiễm giun. Ô nhiễm không khí gây ra khoảng 4,2 triệu ca tử vong sớm trên toàn cầu, chủ yếu do các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính ở trẻ em.
Hãy tập thói quen vệ sinh sạch sẽ nhà cửa, môi trường sống. Hạn chế mở sửa sổ vào thời điểm không khí ô nhiễm nặng, nhất là đối với những nhà nằm trên mặt tiền đường, gần nhà ga. Đảm bảo đeo khẩu trang khi đi ra đường, hạn chế đến nơi đông người. Với người hút thuốc lá, không hút thuốc nơi công cộng và nên bỏ hẳn thuốc để bảo vệ sức khỏe, tránh ảnh hưởng đến người xung quanh như trẻ nhỏ.
4. Vệ sinh đồ dùng cá nhân của bé thường xuyên
Đồ dùng cá nhân của bé có thể là nơi trú ngụ của nhiều mầm bệnh nguy hiểm. Từ đó, có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Ba mẹ hãy thường xuyên rửa sạch đồ chơi của bé bằng dung dịch khử khuẩn. Sau khi ngâm 30 phút hãy rửa lại bằng nước sạch, sau đó phơi nắng rồi mới cho bé chơi. Các loại quần áo, tã lót, chăn, nệm nên giặt thường xuyên bằng xà phòng, nếu cần hãy sát khuẩn bằng nước sôi hoặc nước có pha hóa chất Cloramin B.
5. Chế độ dinh dưỡng khoa học cho bé
Để nâng cao sức đề kháng, phòng tránh bệnh truyền nhiễm ở trẻ em, bé cần một chế độ dinh dưỡng khoa học, lành mạnh. Con nên ăn đủ 3 bữa chính và thêm 1 đến 2 bữa phụ, cung cấp đầy đủ các nhóm chất như chất đạm, đường bột, chất béo, vitamin, khoáng chất. Đặc biệt là các dưỡng chất hỗ trợ hệ miễn dịch như đạm, sắt, kẽm, selen và các loại vitamin.
Đạm là chất dinh dưỡng thiết yếu hỗ trợ chức năng hệ miễn dịch, nên lựa chọn những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao kết đạm động vật và đạm thực vật như thịt, cá, trứng, sữa và các loại đậu đỗ.
Trung bình trẻ cần bổ sung 2gr đạm/ kg cân nặng mỗi ngày. Hàm lượng xơ, vitamin, khoáng chất từ rau, củ quả giúp hệ tiêu hóa của trẻ khỏe mạnh, tăng cường khả năng hấp thu dinh dưỡng, củng cố hiện miễn dịch.

6. Nếu bé mới chào đời hãy cho bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu
Trong 6 tháng đầu đời của trẻ, sữa mẹ hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của bé. Giúp bé phát triển trí não tối ưu, kháng thể có trong sữa mẹ truyền qua bé giúp phòng ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khi bé chưa đến độ tuổi tiêm vắc xin. Sữa mẹ còn có tác dụng chống dị ứng, giúp bé dễ tiêu hóa và hấp thu.
7. Theo dõi sức khỏe của trẻ và đưa trẻ đi khám sức khỏe định kỳ
Khám sức khỏe định kỳ cho trẻ giúp ba mẹ nắm rõ sức khỏe tổng quan của con, đặc biệt là thể chất sự phát triển chiều cao, cân nặng và tinh thần của trẻ. Khám sức khỏe định kỳ còn giúp phát hiện sớm những nguy cơ có thể gây bệnh trong tương lai, từ đó có phương pháp xử trí kịp thời, hiệu quả cao.
⇒ Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm đọc thêm 28 bệnh thường gặp ở trẻ em
Lời khuyên cho bố mẹ khi chăm sóc trẻ
Bố mẹ nên trang bị cho bản thân những kiến thức về vắc xin, dinh dưỡng để đồng hành cùng con trong hành trình trưởng thành và phát triển. Tạo “lớp kén tằm” bao bọc con bằng những loại vắc xin sẵn có, ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh, biến chứng, tử vong do bệnh truyền nhiễm mang lại. Nếu bố mẹ chưa có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về vắc xin cũng đừng nên quá lo lắng.
⇒ Ngoài ra, bạn có thể cập nhật thêm biện pháp 12 cách tăng cường sức đề kháng cho bé.
Một số câu hỏi thường gặp về bệnh truyền nhiễm ở trẻ em
Bên cạnh những thông tin trên, nhiều phụ huynh vẫn còn thắc mắc về các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em như: Trẻ mắc bệnh rồi có tái nhiễm không? Trẻ thường xuyên sốt có phải do bệnh truyền nhiễm? Dưới đây là những câu hỏi thường gặp và lời giải đáp.
1. Bé từng mắc bệnh truyền nhiễm rồi thì có mắc bệnh lại không?
Bé từng mắc bệnh truyền nhiễm vẫn có nguy cơ cao mắc bệnh lại, tuy nhiên khả năng mắc lại sẽ khác nhau tùy từng bệnh và khả năng tạo miễn dịch của cơ thể.
Một số bệnh truyền nhiễm như sởi, quai bị, thủy đậu thường tạo miễn dịch lâu dài sau khi mắc bệnh nên nguy cơ tái nhiễm rất thấp. Ngược lại, nhiều bệnh khác như cúm, Covid-19, tay chân miệng, sốt xuất huyết Dengue, RSV hoặc các bệnh do nhiều chủng vi khuẩn, virus gây ra vẫn có thể mắc lại nhiều lần.
Đối với nhiều bệnh do virus, trẻ vẫn có thể mắc lại nhiều lần do virus có khả năng né tránh hệ miễn dịch. Nguyên nhân là các kháng nguyên trên bề mặt virus, mục tiêu mà hệ miễn dịch nhận diện và ghi nhớ, có thể liên tục đột biến. Khi đó, dù gây ra cùng một bệnh, chủng virus mới có cấu trúc khác so với chủng trước nên các tế bào miễn dịch ghi nhớ không còn nhận diện và tiêu diệt hiệu quả.
Ngay cả khi từng mắc bệnh, trẻ vẫn nên được tiêm vắc xin nếu có khuyến cáo. Tiêm chủng giúp củng cố miễn dịch, kéo dài thời gian bảo vệ hoặc phòng ngừa các chủng virus, vi khuẩn mà trẻ chưa từng nhiễm. Cha mẹ nên đưa trẻ đi khám và tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn lịch tiêm phù hợp với độ tuổi, tiền sử mắc bệnh và tình trạng sức khỏe của trẻ.
2. Trẻ em hay bị sốt có phải do bệnh truyền nhiễm không?
Sốt là một trong những triệu chứng phổ biến nhất ở trẻ em và phần lớn trường hợp là do các bệnh truyền nhiễm gây ra. Dù cơn sốt chỉ kéo dài vài ngày hay kéo dài trên 2 tuần, nhiễm trùng vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất.
Khi cơ thể bị virus, vi khuẩn hoặc các tác nhân gây bệnh xâm nhập, hệ miễn dịch sẽ kích hoạt phản ứng bảo vệ, làm tăng nhiệt độ cơ thể. Đây là cơ chế tự nhiên giúp ức chế sự phát triển của nhiều loại vi sinh vật và hỗ trợ cơ thể chống lại nhiễm trùng.
Một số bệnh truyền nhiễm thường gây sốt ở trẻ gồm nhiễm trùng đường hô hấp trên, cúm, viêm tai giữa, bệnh ban đào, viêm amidan, nhiễm trùng đường tiết niệu, thủy đậu, ho gà, tay chân miệng, sởi... Tuy nhiên, sốt cũng có thể xuất phát từ các nguyên nhân khác như phản ứng sau tiêm vắc xin, mọc răng (thường chỉ gây tăng thân nhiệt nhẹ), bệnh tự miễn hoặc một số bệnh lý khác.
Nếu trẻ sốt cao từ 38,5 độ C trở lên, sốt kéo dài trên 48 - 72 giờ hoặc sốt kèm các dấu hiệu bất thường như co giật, khó thở, li bì, bỏ bú, phát ban, nôn nhiều hoặc mất nước, cha mẹ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được bác sĩ thăm khám, xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời.

⇒ Xem thêm: Danh sách 47 bệnh truyền nhiễm thường gặp và mức độ nguy hiểm.
Trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi, có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, dễ bị bệnh truyền nhiễm ở trẻ em tấn công, đe dọa sức khỏe và tương lai của trẻ. Chủ động bảo vệ trẻ bằng vắc xin đầy đủ, đúng lịch là phương pháp phòng bệnh an toàn, hiệu quả và tiết kiệm cho trẻ và gia đình.
- Bhutta, Z. A., & Saeed, M. A. (2008). Childhood Infectious Diseases: Overview. International Encyclopedia of Public Health, 620–640. https://doi.org/10.1016/B978-012373960-5.00568-2
- Childhood diseases. (n.d.). UNICEF. https://www.unicef.org/health/childhood-diseases
- Communicable diseases among children. (2024, March 14). https://www.who.int/teams/maternal-newborn-child-adolescent-health-and-ageing/child-health/communicable-diseases-among-children







