Giãn tĩnh mạch phổi: Cần cảnh giác liên tục
08:50 21/01/2026
Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Hiện tượng giãn tĩnh mạch phổi là bệnh lý hiếm gặp, gây rối loạn lưu lượng máu trong phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả trao đổi khí, chức năng hô hấp cũng như tuần hoàn của cơ thể.
Bài viết được tư vấn chuyên khoa bởi BS Lê Thị Gấm, Quản lý Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC.
Giãn tĩnh mạch phổi là gì?
Giãn tĩnh mạch phổi (hay còn gọi là phình tĩnh mạch phổi) là tình trạng giãn nở cục bộ hiếm gặp của một đoạn tĩnh mạch phổi, chủ yếu do bẩm sinh mắc phải hoặc liên quan đến các tổn thương tim như bệnh van hai lá, lao, khí phế thũng, tăng huyết áp toàn thân và rò động mạch tĩnh.
Bệnh này lần đầu tiên được Heidinger et al. báo cáo vào năm 1907 và các trường hợp trước đó chỉ được chẩn đoán khi khám nghiệm tử thi. Từ năm 1951, giãn phình tĩnh mạch phổi đã được chẩn đoán bằng cách chụp mạch máu. Khi tĩnh mạch bị giãn nở, dòng máu có thể bị rối loạn, dẫn đến khó thở, ho kéo dài (đôi khi có máu), đau ngực và giảm khả năng vận động. Về lâu dài, giãn nở tĩnh mạch phổi có thể gây thiếu oxy máu, tăng gánh cho tim phải và nguy cơ suy tim nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Vị trí phình tĩnh mạch phổi được báo cáo chủ yếu ở thùy dưới bên phải (60%), thùy trên bên trái (17%), thùy trên bên phải (8%), thùy giữa bên phải (4%) và thùy dưới bên trái (4%). Tình trạng phình tĩnh mạch phổi được phân thành 3 loại hình thái: Loại hình túi (khu trú, hình bầu dục), loại hình ngoằn ngoèo (lan rộng, bờ không đều) và loại hình hợp lưu (khu trú tại chỗ hợp lưu của các tĩnh mạch phổi). (1)
Phân loại giãn tĩnh mạch phổi
Tình trạng giãn phình tĩnh mạch phổi có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải, đơn độc hoặc kết hợp với giãn tĩnh mạch ở các cơ quan khác, cụ thể như sau:
1. Giãn tĩnh mạch phổi bẩm sinh
Phình tĩnh mạch phổi bẩm sinh phát triển trong giai đoạn phôi thai và có thể cùng tồn tại với nhiều bệnh tim bẩm sinh khác nhau. Đây là tình trạng “yếu ớt” bẩm sinh của thành tĩnh mạch phổi, c không xuất hiện khuyết tật thành bên trong khi kiểm tra mô học. Các dị tật tim bẩm sinh khác có liên quan đến hiện tượng giãn nở tĩnh mạch phổi là bệnh ống động mạch chủ mở, bệnh thất phải hai đường ra, hẹp động mạch chủ, hẹp tĩnh mạch phổi, khuyết tật vách liên thất và hội chứng Klippel-Trenaunay-Weber (loạn sản mạch máu bẩm sinh).
Đối với giãn nở tĩnh mạch phổi bẩm sinh, các triệu chứng thường không biểu hiện và gần như không cần điều trị, nhưng vẫn cần theo dõi hàng năm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh để phát hiện nhanh các bất thường, từ đó can thiệp kịp thời.
2. Giãn tĩnh mạch phổi mắc phải
Các dạng phình tĩnh mạch do mắc phải thường liên quan đến các bệnh làm tăng áp lực tĩnh mạch phổi sau chấn thương hoặc bệnh van hai lá. Trong trường hợp bệnh van hai lá, tất cả các trường hợp đều được ghi nhận ở thùy phải. Trong tình trạng này, máu trào ngược được dẫn từ tâm thất trái đến lỗ tĩnh mạch phổi phải, gây tăng áp lực cục bộ trong tĩnh mạch phổi phải, dẫn đến hình thành giãn tĩnh mạch tại vị trí này. Theo báo cáo, giãn nở tĩnh mạch phổi sẽ hồi phục trong khoảng 9 tháng đến 2 năm, sau khi thay van hai lá. (2)
Ai có nguy cơ cao mắc bệnh?
Hội chứng tĩnh mạch phổi thường được ghi nhận chủ yếu ở trẻ em, thường do vấn đề nối tĩnh mạch phổi bất thường, khuyết tật vách ngăn tâm nhĩ và tâm thất hoặc các hội chứng dị tật bẩm sinh phức tạp.
Bên cạnh đó, những người có sẵn bệnh lý nền về tim mạch hoặc hô hấp cũng là đối tượng nguy cơ cao bị giãn nở tĩnh mạch phổi, điển hình như người bị hẹp van hai lá, tăng áp lực động mạch phổi hoặc suy tim lâu năm (dễ làm tăng áp lực trong hệ tĩnh mạch phổi).
Triệu chứng của giãn tĩnh mạch phổi
Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng khi bị giãn nở tĩnh mạch phổi và thường được phát hiện tình cơ trong các đợt kiểm tra sức khỏe. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, bệnh có thể biểu hiện qua những dấu hiệu không đặc hiệu như sau:
1. Triệu chứng thông thường
Với tần suất tương đối thấp, các triệu chứng của giãn phình tĩnh mạch phổi có thể xuất hiện bao gồm: ho, khó thở (đặc biệt là khi nằm), tức ngực, nhịp tim đập nhanh; nặng hơn là ho ra máu và nhồi máu não.
2. Dấu hiệu trở nặng cần gặp bác sĩ
Trong trường hợp bệnh diễn tiến nặng hơn, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng cảnh báo nguy hiểm bao gồm ho ra máu, chèn ép phế quản gây khó thở hoặc rối loạn nuốt do chèn ép thực quản… Đồng thời, các triệu chứng khó thở tăng dần, nuốt nghẹn hoặc tim đập nhanh bất thường đều cần được xem là cảnh báo trở nặng và phải đi khám bác sĩ ngay. (3)
Các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra khi tĩnh mạch phổi bị giãn
Các biến chứng chính của giãn phình tĩnh mạch phổi là vỡ, ho ra máu và huyết khối kèm theo tắc mạch hệ thống. Điển hình là hội chứng thuỳ giữa với biểu hiện ho ra máu, chèn ép phế quản gây khó thở hoặc rối loạn nuốt do chèn ép thực quản đã được ghi nhận trong y văn. Đặc biệt, biến chứng nghiêm trọng như tử vong do vỡ tĩnh mạch hoặc hình thành huyết khối gây tắc mạch cũng đã được báo cáo trong các trường hợp giãn nở tĩnh mạch phổi.
Nguyên nhân gây vỡ mạch có thể liên quan đến giãn nở thứ phát do bệnh tim hoặc thâm nhiễm lao phổi, trong khi nhồi máu phổi thường bắt nguồn từ cục máu đông trong hệ tĩnh mạch phổi. Những biến chứng này không chỉ đe dọa tính mạng mà còn tiến triển nhanh, khó lường.
Các phương pháp chẩn đoán tĩnh mạch phổi bị giãn
Tình trạng phình tĩnh mạch phổi cần được phân biệt với các bệnh lý khác ở phổi và trung thất, đặc biệt là các dị dạng động tĩnh mạch phổi, thông qua các phương pháp chẩn đoán như sau:
- Chụp mạch máu: Đây là “tiêu chuẩn vàng” để xác định và chẩn đoán phình động mạch phổi do độ phân giải thời gian và thông tin về dòng chảy máu vượt trội. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là gây xâm lấn nhiều;
- Chụp X-quang ngực: Không đặc hiệu và có thể xuất hiện dưới dạng khối u trên phim chụp X-quang ngực;
- Chụp cắt lớp vi tính (CT Scan) có cản quang: Đây là phương pháp chẩn đoán chính vì cho phép xác định chính xác cấu trúc giải phẫu động mạch và tĩnh mạch. Đồng thời, chụp CT cộng hợp MRI sẽ giúp tăng cường độ tương phản do tính không xâm lấn;
- Siêu âm tim qua thực quản: Đây là phương pháp đánh giá lưu lượng máu, được sử dụng để quan sát chứng giãn phình tĩnh mạch phổi ở tĩnh mạch phổi dưới bên trái (hiếm gặp). Phương pháp này có thể quan sát hướng của tín hiệu hở van hai lá do lệch van hai lá, dòng chảy trực tiếp và dòng chảy chuyển hướng trong khi bị giãn nở tĩnh mạch phổi.
Điều trị giãn tĩnh mạch phổi như thế nào?
Hiện không có hướng điều trị cho tình trạng giãn nở tĩnh mạch phổi. Trong trường hợp không có triệu chứng, bệnh nhân sẽ được theo dõi diễn tiến của bệnh. Trong trường hợp có triệu chứng hoặc nguy cơ cao vỡ giãn nở tĩnh mạch phổi hoặc nhồi máu não do huyết khối trong phình động mạch, Bác sĩ sẽ xem xét điều trị bằng phẫu thuật hoặc can thiệp qua catheter (ống thông tĩnh mạch trung tâm).
Nhìn chung, giãn tĩnh mạch phổi là tình trạng bất thường hiếm gặp ở hệ tĩnh mạch trong phổi, đặc trưng bởi sự giãn nở bất thường của thành mạch. Các nghiên cứu y khoa nhấn mạnh rằng việc chẩn đoán sớm và can thiệp đúng cách, có thể giúp cải thiện hoặc làm thoái triển tình trạng giãn nở tĩnh mạch phổi.
- Challa, R., Irion, K. L., B Hochhegger, M Shackloth, Elsayed, H., Gosney, J. R., S Binukrishnan, Marchiori, E., & Silva. (2010). Large pulmonary masses containing varicose veins: a rare presentation of benign metastasising leiomyomas. British Journal of Radiology, 83(995), e243–e246. https://doi.org/10.1259/bjr/49938718
- Yamaguchi, B., Kodama, Y., Watanabe, K., Suzuki, J., Sakurai, Y., & Keiki Yokoo. (2022). Pulmonary varix clearly demonstrated by 3D-CT before pulmonary angiography. Radiology Case Reports, 17(11), 4183–4187. https://doi.org/10.1016/j.radcr.2022.08.023
- Talmor, N., Massera, D., Small, A., Ramachandran, A., Argilla, M., Staniloae, C. S., Latson, L. A., & Halpern, D. G. (2021). Acquired pulmonary vein stenosis resulting in haemoptysis: a case series. European Heart Journal – Case Reports, 5(6). https://doi.org/10.1093/ehjcr/ytab235