Tăng gần gấp đôi tỷ lệ mắc ung thư ở người dưới 40 tuổi, người trẻ khỏe mạnh cần đặc biệt lưu ý!
Tỷ lệ bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ dưới 40 tuổi tại Việt Nam tăng gần gấp đôi so với thập kỷ trước, người trưởng thành từ 25 - 49 tuổi tại Anh mắc ung thư tăng 24% trong gần ba thập kỷ, trong khi nhiều loại ung thư cũng ghi nhận xu hướng gia tăng ở nhóm dưới 50 tuổi tại Mỹ và Hà Lan. Thực trạng ung thư khởi phát sớm ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm giảm gánh nặng bệnh tật ở nhóm người trẻ ngày nay. (1)

Ung thư xảy ra khi các tế bào trong cơ thể biến đổi bất thường, tăng sinh mất kiểm soát , xâm lấn các mô lân cận hoặc di căn đến cơ quan khác. Nguy cơ mắc bệnh thường tăng theo tuổi do các biến đổi gen tích lũy theo thời gian. Tuy nhiên, nhiều loại ung thư đang có xu hướng gia tăng ở người trẻ, đặc biệt là nhóm dưới 50 tuổi.
“Ung thư khởi phát sớm” là thuật ngữ chỉ các trường hợp ung thư được chẩn đoán trước 50 tuổi. Theo nghiên cứu công bố năm 2025, giai đoạn 1990 - 2019, số ca mắc mới trên toàn cầu ở nhóm này tăng 79,1%, trong khi số ca tử vong tăng 27,7%. Xu hướng đáng chú ý được ghi nhận ở các bệnh ung thư đại trực tràng, vú, thận, tuyến tụy và tử cung.
Thực trạng ung thư khởi phát sớm tại Anh, Mỹ và Hà Lan
Dữ liệu của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới Quốc tế (WCRF) cho thấy tỷ lệ mắc một số loại ung thư ở người dưới 50 tuổi tăng tại nhiều quốc gia trong các giai đoạn nghiên cứu:
|
Anh Quốc |
Hoa Kỳ |
Hà Lan |
|
Ung thư đại trực tràng ở người dưới 50 tuổi tăng gấp đôi từ 3,8 lên 8,3 ca/100.000 người; ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới tăng từ 1 lên 3,6 ca/100.000 người; ung thư vú ở nữ giới tăng từ 42 lên 47,5 ca/100.000 người. |
Ung thư thận ở nam giới dưới 50 tuổi tăng từ 3,1 lên 6,6 ca/100.000 người, ở nữ giới từ 1,9 lên 4 ca/100.000 người; ung thư vú ở nữ giới tăng từ 42,9 lên 51,7 ca/100.000 người. |
Ung thư đại trực tràng ở nam giới dưới 50 tuổi tăng từ 5 lên 7,2 ca/100.000 người, ở nữ giới từ 4,8 lên 6 ca/100.000 người; ung thư thận và gan cũng gia tăng ở cả hai giới. |
Đáng chú ý, nhóm dưới 40 tuổi cũng cần được quan tâm. Đây là giai đoạn nhiều người đang học tập, phát triển sự nghiệp và xây dựng gia đình, nhưng có thể chủ quan trước các dấu hiệu bất thường hoặc chưa thuộc nhóm tuổi được khuyến nghị sàng lọc thường quy. Việc trì hoãn thăm khám có thể khiến bệnh được phát hiện muộn, làm tăng thách thức trong điều trị và theo dõi lâu dài.
Dữ liệu từ Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới (GLOBOCAN) năm 2022, ghi nhận thế giới có khoảng 1,25 triệu ca ung thư mới và 351.110 ca tử vong do ung thư ở nhóm 20 - 40 tuổi. Tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi là 50,3 ca trên 100.000 người/năm, trong khi tỷ lệ tử vong là 14,2 ca trên 100.000 người/năm. Mô hình dự báo đến năm 2050, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư khởi phát sớm lần lượt tăng 12,8% và 12,9%. (2)
Tại Việt Nam, gánh nặng ung thư đã tăng khoảng 3 lần trong 30 năm qua. Theo GLOBOCAN 2020, cả nước ghi nhận 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong; tỷ lệ mắc xếp thứ 90/185 quốc gia, còn tỷ lệ tử vong xếp thứ 50/185 quốc gia. Các loại ung thư phổ biến gồm ung thư phổi, gan, vú, dạ dày và đại trực tràng. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế về ung thư vùng đầu cổ giai đoạn 2010 - 2020 cũng ghi nhận bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm 11,2%, gần gấp đôi so với giai đoạn trước đó.
Xem thêm: Ung thư trẻ hóa do đâu?
Theo các chuyên gia, ung thư khởi phát sớm có thể liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có hút thuốc, sử dụng rượu bia, béo phì và ô nhiễm không khí. Già hóa dân số cũng góp phần làm tăng tổng gánh nặng ung thư, dù không trực tiếp giải thích xu hướng gia tăng ở người trẻ. Một số trường hợp có liên quan đến yếu tố di truyền hoặc đột biến gen, nhưng không phải người bệnh nào cũng xác định được nguyên nhân cụ thể.
Bên cạnh đó, nhiễm trùng là một nguyên nhân quan trọng gây ra một phần các ca ung thư trên toàn cầu. Theo nghiên cứu do Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) công bố tháng 9/2026, khoảng 2,3 triệu ca ung thư mới trên thế giới trong năm 2024 có liên quan đến nhiễm trùng, tương đương khoảng 12% tổng số ca mới. Trong đó, vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) liên quan đến khoảng 760.000 ca, HPV khoảng 750.000 ca và virus viêm gan B (HBV) khoảng 360.000 ca. Một số tác nhân nhiễm trùng có thể gây tổn thương kéo dài, làm tăng nguy cơ biến đổi tế bào và hình thành ung thư sau nhiều năm. (3)

Theo Bác sĩ Phạm Đình Đông, Quản lý Y khoa Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC, trong số các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp, một số tác nhân gây nhiễm trùng liên quan đến ung thư có thể được phòng ngừa bằng vắc xin như HPV và virus viêm gan B (HBV).
HPV (Human Papillomavirus) là virus gây u nhú ở người, lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc tình dục. Phần lớn trường hợp nhiễm virus được hệ miễn dịch kiểm soát, nhưng nhiễm dai dẳng các type HPV nguy cơ cao có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung và các ung thư khác ở hậu môn, dương vật, âm hộ, âm đạo và vùng hầu họng. Trong khi đó, HBV có thể gây viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan, với quá trình tổn thương diễn tiến âm thầm trong nhiều năm.
Tiêm vắc xin HPV và viêm gan B giúp ngăn ngừa nhiễm virus, qua đó giảm nguy cơ mắc các ung thư liên quan. Vắc xin HPV đạt hiệu quả phòng bệnh tốt nhất khi tiêm trước khi có khả năng phơi nhiễm với virus, do đó trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 9 - 14, cần được ưu tiên tiêm ngừa sớm ngay khi đủ điều kiện tiêm ngừa. Với viêm gan B, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo trẻ sơ sinh tiêm liều vắc xin đầu tiên trong vòng 24 giờ sau sinh, sau đó hoàn thành các liều tiếp theo theo lịch. Tiêm sớm đặc biệt quan trọng vì trẻ nhiễm HBV, nhất là trẻ sơ sinh, có nguy cơ tiến triển thành nhiễm trùng mạn tính cao hơn nhiều so với người trưởng thành.
Hiệu quả phòng ngừa ung thư của vắc xin viêm gan B và HPV được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Tại Đài Loan, sau khi triển khai chương trình tiêm chủng viêm gan B toàn dân, tỷ lệ mắc ung thư biểu mô tế bào gan ở trẻ em giảm rõ rệt; các nhóm sinh sau khi chương trình được thực hiện cũng ghi nhận tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh gan thấp hơn. Nghiên cứu can thiệp viêm gan B Qidong (QHBIS), tiến hành tại Trung Quốc giai đoạn 1983 - 1990, cho thấy tiêm đủ ba liều vắc xin viêm gan B có hiệu quả 84% trong phòng ngừa ung thư gan nguyên phát ở trẻ em. Những kết quả này cho thấy tiêm chủng sớm có vai trò quan trọng trong giảm nguy cơ ung thư gan liên quan đến HBV.
Với HPV, tiêm vắc xin sớm giúp giảm 99% nguy cơ biến đổi tế bào cổ tử cung nghiêm trọng do các chủng virus nguy cơ cao. Vắc xin HPV 9 chủng giúp mở rộng khả năng phòng ngừa lên khoảng 90% trường hợp ung thư cổ tử cung, đồng thời phòng ngừa các ung thư liên quan đến HPV ở hậu môn, âm hộ, âm đạo và hầu họng. Theo mô hình dự báo của WHO, kết hợp tiêm chủng cho 90% trẻ em gái trước 15 tuổi với sàng lọc và điều trị có thể giảm tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung toàn cầu tới 97% vào năm 2120, ngăn ngừa 74 triệu ca mắc và hơn 62 triệu ca tử vong.
| Tên vắc xin | Phòng bệnh | Đối tượng | Tìm hiểu chi tiết |
|
Heberbiovac (Cu Ba) |
Viêm gan B - bệnh có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan |
Trẻ sơ sinh và người lớn. |
XEM THÊM! |
|
Gene Hbvax (Việt Nam) |
XEM THÊM! | ||
|
Twinrix (Bỉ) |
Viêm gan A và B. Trong đó, viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến xơ gan, ung thư gan |
Trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên và người lớn. |
XEM THÊM! |
|
Gardasil (Mỹ) |
Ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, các tổn thương tiền ung thư và loạn sản, mụn cóc sinh dục và bệnh lý do nhiễm virus HPV |
Nữ giới từ 9 đến 26 tuổi |
XEM THÊM! |
|
Gardasil 9 (Mỹ) |
Nam và nữ từ 9 đến 45 tuổi |
XEM THÊM! |

Bên cạnh phòng ngừa các ung thư có thể giảm nguy cơ bằng tiêm chủng, bảo vệ người bệnh sau khi được chẩn đoán ung thư cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trước nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm và biến chứng nặng. Bản thân ung thư và một số phương pháp điều trị như hóa trị, liệu pháp làm suy giảm miễn dịch có thể ảnh hưởng đến khả năng chống lại tác nhân gây bệnh, khiến người bệnh dễ gặp các nhiễm trùng cơ hội, trong đó có zona thần kinh.
Zona thần kinh xảy ra khi virus Varicella Zoster (VZV), tác nhân gây bệnh thủy đậu, tái hoạt động trong cơ thể. Bình thường, tế bào miễn dịch lympho T giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát virus, nhưng ung thư và các phương pháp điều trị có thể làm suy giảm khả năng miễn dịch này, tạo điều kiện cho virus tái hoạt động. Một nghiên cứu ghi nhận người mắc ung thư huyết học có nguy cơ mắc zona cao gấp 3,74 lần; người mắc ung thư khối u đặc đang hóa trị có nguy cơ cao hơn 83% so với người không mắc ung thư.
“Zona thần kinh là một trong những bệnh cần lưu ý, đặc biệt ở người mắc ung thư huyết học hoặc đang điều trị bằng hóa trị và một số liệu pháp làm suy giảm miễn dịch”, Bác sĩ Đình Đông nhấn mạnh và cho biết thêm hiện nay tại Việt Nam đã có vắc xin phòng bệnh zona thần kinh, triển khai tiêm tại các Trung tâm Tiêm chủng VNVC trên toàn quốc.
Vắc xin zona thần kinh Shingrix (Bỉ) ứng dụng công nghệ tái tổ hợp kết hợp chất bổ trợ giúp tăng cường đáp ứng miễn dịch, mang lại hiệu quả phòng bệnh cao. Vắc xin được chỉ định cho người từ 50 tuổi trở lên và người từ 18 tuổi có nguy cơ cao mắc zona do suy giảm miễn dịch. Hiệu quả phòng zona đạt đến 97% ở người từ 50 tuổi và 70 - 87% ở người từ 18 tuổi suy giảm miễn dịch do bệnh lý; đồng thời giảm hơn 90% nguy cơ đau thần kinh sau zona và các biến chứng khác. Lịch tiêm gồm 2 mũi, cách nhau 2 tháng với người từ 50 tuổi và 1 tháng với người từ 18 tuổi có nguy cơ cao.
- Gunn, T. (2024, June 3). Cancer rates rising in under-50s. Cancer Research UK – Cancer News. https://news.cancerresearchuk.org/2024/06/03/cancer-rates-rising-in-under-50s-early-onset-24-percent-increase/
- André, F., Rassy, E., Achutti-Duso, B., Boilève, A., Smolenschi, C., Delaloge, S., & Barlesi, F. (2025, September). The rising tides of cancers among young adults. ESMO Open; PubMed Central. https://doi.org/10.1016/j.esmoop.2025.105553
- Cao, M., Fan, J., Lu, L., Fan, C., Wang, Y., Chen, T., Zhang, S., Yu, Y., Xia, C., Lu, J., Chen, K., Yao, H., Chen, W., & Qu, C. (2022). Long term outcome of prevention of liver cancer by hepatitis B vaccine: Results from an RCT with 37 years. Cancer Letters, 536, 215652. https://doi.org/10.1016/j.canlet.2022.215652









