Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta làm sao nhận biết?

21:42 19/12/2025

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta là thể nặng nhất của viêm gan B, gây tổn thương gan nặng và làm tăng mạnh nguy cơ xơ gan, suy gan, ung thư gan. Hiểu rõ cơ chế sinh bệnh, dấu hiệu nhận biết, phương pháp chẩn đoán, điều trị và cách phòng ngừa sẽ giúp người bệnh phát hiện sớm, hạn chế biến chứng và nguy cơ tử vong.
| BS Đoàn Thị Khánh Châm - Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC cho biết: “Viêm gan delta (HDV) có thể xảy ra khi người bệnh đồng nhiễm viêm gan B và D cùng lúc hoặc bội nhiễm HDV sau khi đã mắc viêm gan B. Đồng nhiễm đôi khi tự khỏi sau 6 tháng nhưng vẫn có nguy cơ gây suy gan đột ngột, thậm chí tử vong. Bội nhiễm là dạng viêm gan delta thường gặp và nặng hơn viêm gan B đơn thuần, khi tới 90% trường hợp tiến triển thành mạn tính ở cả HBV và HDV, trong đó khoảng 70% dẫn đến xơ gan, cao hơn nhiều so với người chỉ nhiễm viêm gan B”. (1) |

Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta là gì?
Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta là tình trạng người bệnh nhiễm viêm gan B mạn tính đồng thời nhiễm thêm viêm gan D, còn gọi là viêm gan delta. Viêm gan D là virus khiếm khuyết, không thể tự nhân lên nếu không có sự hiện diện của virus viêm gan B. HDV cần các protein vỏ của HBV để lắp ráp và nhân lên các hạt. Vì vậy, chỉ những người đã nhiễm HBV mới có thể nhiễm HDV.
Nhiễm virus viêm gan virus b mạn có tác nhân delta có thể dẫn đến viêm gan virus nặng, đẩy năng quá trình tiến triển thành xơ gan, thậm chí ung thư biểu mô tế bào gan. So với những người chỉ nhiễm HBV, những bệnh nhân đồng nhiễm HDV và HBV mạn tính hoặc nhiễm kép có tỷ lệ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan cao hơn, cũng như tỷ lệ tử vong liên quan đến gan cao hơn.
Một nghiên cứu dịch tễ học năm 2020 được công bố với sự hợp tác của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ ra rằng, ước tính có 5% người mang HBV mạn tính (khoảng 15 - 20 triệu người) bị đồng nhiễm HDV. Các khu vực có tỷ lệ lưu hành cao bao gồm Trung Phi, Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Trung Đông, Đông Âu, Bắc Á, một số khu vực của Đông Nam Á và lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ.

Cơ chế bệnh sinh viêm gan B mạn có tác nhân delta
Trong cơ chế bệnh sinh, mối quan hệ giữa HBV và HDV giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ nặng của bệnh. Hai hình thái thường gặp là đồng nhiễm HBV - HDV và bội nhiễm HDV trên nền HBV trên nền mạn tính.
1. Đồng nhiễm HBV và HDV
Đồng nhiễm HBV và HDV xảy ra khi người bệnh nhiễm virus viêm gan B và viêm gan D cùng thời điểm. Tình trạng này có thể gây tổn thương gan cấp tính, dẫn đến suy gan đe dọa tính mạng, tuy nhiên phần lớn trường hợp không tiến triển thành mạn tính. Người bệnh thường hồi phục sau khi vượt qua giai đoạn viêm gan cấp, nhưng vẫn cần theo dõi chặt chẽ để tránh biến chứng nặng.
2. Bội nhiễm HDV trên nền HBV trên nền mạn tính
Bội nhiễm xảy ra khi người bệnh nhiễm HDV sau khi đã mang HBV từ trước. Đây là dạng nguy hiểm nhất, có xu hướng tiến triển nhanh và gây hại gan nghiêm trọng. Khoảng 90% trường hợp bội nhiễm sẽ chuyển thành nhiễm HBV và HDV mạn tính, trong đó 70% tiến triển thành xơ gan, cao hơn rất nhiều so với nhóm chỉ mắc viêm gan B (15 - 30%). Bệnh có thể dẫn đến xơ gan, suy gan và tăng đáng kể nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
⇒ Tham khảo thêm: Viêm gan virus b mạn không có tác nhân delta là gì?
Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta nguy hiểm như thế nào?
Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta được xem là thể nguy hiểm nhất của viêm gan B, bởi HDV làm tăng tốc độ tổn thương gan và khiến diễn tiến bệnh nặng hơn nhiều lần so với nhiễm HBV đơn thuần. Khi HDV xâm nhập vào cơ thể người đã mắc HBV, virus này nhân lên rất nhanh, gây viêm gan cấp nặng, dễ dẫn đến suy gan, viêm gan tối cấp và tử vong.
Không chỉ gây tổn thương gan nghiêm trọng, viêm gan B mạn có tác nhân delta còn đẩy nhanh tốc độ tiến triển thành xơ gan, với khoảng 70 - 80% người bệnh bị xơ gan trong 5 - 10 năm và 15% diễn tiến chỉ trong 1 - 2 năm. Những người bị xơ gan liên quan đến HDV có khả năng sống sót sau 5 và 10 năm lần lượt là 49% và 40%. (2)
Ngoài ra, nhiễm HDV trên nền HBV mạn tính làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển ung thư biểu mô tế bào gan. Mặc dù HBV là tác nhân gây ung thư chính, nhưng HDV lại thúc đẩy quá trình xơ gan, vốn là tiền đề quan trọng nhất để phát triển ung thư gan. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguy cơ ung thư gan ở người nhiễm HBV kèm HDV tăng gấp 3 lần so với người chỉ nhiễm HBV. Tỷ lệ sống còn thấp hơn đáng kể vì bệnh nhanh mất bù và dễ biến chứng. (3)

Triệu chứng của viêm gan B mạn tính có tác nhân delta
Triệu chứng của viêm gan B mạn tính kèm theo viêm gan D thường không đặc hiệu. Nhiều người bệnh thường không có triệu chứng lâm sàng hoặc các triệu chứng nhẹ, dễ nhầm với các bệnh khác, bao gồm:
- Mệt mỏi;
- Chán ăn, ăn uống không ngon miệng;
- Rối loạn tiêu hóa;
- Đau tức nhẹ ở vùng hạ sườn phải…
Trong trường hợp có tổn thương gan nhiều, người bệnh có thể gặp thêm các triệu chứng như:
- Vàng da;
- Ngứa;
- Cổ chướng;
- Xuất huyết dưới da;
- Sao mạch;
- Tuần hoàn bàng hệ nếu có xơ gan;
- Thăm khám thực thể có thể thấy gan to, đôi khi kèm theo đau, phù, tràn dịch các màng…
Chẩn đoán viêm gan B mạn có tác nhân delta như thế nào?
Để chẩn đoán viêm gan virus B mạn có đồng nhiễm HDV, bác sĩ cần kết hợp nhiều xét nghiệm chuyên sâu nhằm phát hiện sự hiện diện của virus delta, đánh giá mức độ hoạt động virus và tổn thương gan.
- Xét nghiệm HDV RNA bằng kỹ thuật RT PCR: Để chẩn đoán viêm gan virus B mạn có đồng nhiễm HDV, bác sĩ cần kết hợp nhiều xét nghiệm chuyên sâu nhằm phát hiện sự hiện diện của virus delta, đánh giá mức độ hoạt động virus và tổn thương gan.
- Xét nghiệm kháng thể HDV (IgM, IgG): HDV IgM thường xuất hiện sớm (từ 4 tuần sau phơi nhiễm), đặc biệt trong nhiễm HDV cấp. HDV IgG xuất hiện muộn hơn, có giá trị trong chẩn đoán nhiễm HDV mạn tính và thường tương quan với tải lượng HDV RNA. Ở bệnh nhân được điều trị, nồng độ HDV IgG giảm dần theo thời gian.
- Xét nghiệm kháng nguyên HDAg trong huyết thanh: HDAg xuất hiện trong giai đoạn nhiễm HDV cấp, nhưng hiếm gặp trong nhiễm mạn do đã bị trung hòa bởi kháng thể. Xét nghiệm này ít được sử dụng trên thực tế.
- Sinh thiết gan kết hợp nhuộm hóa mô miễn dịch: Phát hiện HDAg hoặc HDV RNA trực tiếp trong tế bào gan. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật xâm lấn và chỉ thực hiện trong một số trường hợp cần thiết.
Ở những bệnh nhân mắc viêm gan virus B mạn có đồng nhiễm viêm gan D cấp tính, các xét nghiệm HDAg, HDV IgM thường dương tính và tải lượng virus HDA RNA thường cao hơn do virus viêm gan D đang tăng sinh mạnh mẽ.
Ở những người mắc viêm gan B mạn tính đồng nhiễm viêm gan D mạn tính, HDA RNA thường phát hiện ở mức thấp hơn, HDAg thường không phát hiện được ngay cả khi sinh thiết gan và nhuộm hóa mô miễn dịch. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của HDA IgG, có thể có sự chuyển đảo huyết thanh HBeAg của HBV (HBeAg âm tính, HBeAb dương tính).

Điều trị viêm gan virus B mạn có tác nhân delta
Viêm gan virus b mạn có tác nhân delta là thể bệnh phức tạp, tiến triển nhanh và dễ dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan. Việc điều trị cần được cá thể hóa và theo dõi chặt chẽ bởi bác sĩ chuyên khoa.
1. Điều trị viêm gan B mạn
Nguyên tắc điều trị viêm gan virus B mạn khi:
- Với người có HBeAg dương tính: Tải lượng HBV DNA ≥ 20.000 IU/ml (10^5 copies/ml). AST, ALT > 2 lần giới hạn bình thường và/hoặc có bằng chứng xơ hóa gan F≥2.
- Với người bệnh có HBeAg âm tính: Tải lượng HBV DNA > 20.00 IU/ml ( 10^4 copies/ml). AST, ALT > 2 lần giới hạn bình thường và/hoặc có bằng chứng xơ hóa gan F ≥2.
Nếu người bệnh không đủ tiêu chuẩn của 2 trường hợp trên, bác sĩ có thể cân nhắc điều trị khi người bệnh trên 30 tuổi có tăng ALT kéo dài (tăng ít nhất 3 lần trong 24 - 48 tuần) HBV DNA > 20.000 IU/ml hoặc gia đình có người bị xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan hoặc lâm sàng có biểu hiện ngoài gan như viêm cầu thận, viêm đa khớp, cryoglobulin máu, … hoặc điều trị sau khi người bệnh dừng thuốc kháng virus bị tái phát.
Các thuốc kháng virus có thể được sử dụng để điều trị viêm gan B mạn bao gồm:
- Tenofovir disoproxil fumarate (TDF): 300 mg/ngày; cần chỉnh liều khi suy thận.
- Tenofovir alafenamide (TAF): 25 mg/ngày; không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận hoặc chạy thận.
- Entecavir (ETV): 0,5 mg/ngày; chỉnh liều khi suy thận.
2. Điều trị viêm gan D
Khi điều trị viêm gan D, cần đánh giá tải lượng HDV RNA và bằng chứng tổn thương gan mạn tính (men ALT, đánh giá độ xơ hóa gan…). Nếu người bệnh có nồng độ HDV RNA cao, có bằng chứng viêm gan hoạt động, cần phải được điều trị càng sớm càng tốt bằng thuốc pegylated interferon ( Peg-IFN) alpha trong 48 tuần.
3. Điều trị viêm gan virus B mạn có đồng nhiễm viêm gan D
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2019, điều trị viêm gan D được ưu tiên bằng Pegylated Interferon (Peg-IFN) trong thời gian 48 tuần. Đồng thời, người bệnh cần được điều trị viêm gan B bằng các thuốc kháng virus như TDF, TAF hoặc ETV khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chỉ định điều trị HBV.
Sau khi kết thúc phác đồ, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ với các xét nghiệm HBV DNA, HDV RNA và men gan ALT để đánh giá đáp ứng điều trị, phát hiện sớm tái hoạt virus và theo dõi tiến triển bệnh.
Theo dõi và chăm sóc người bệnh nhiễm HBV-HDV
Nhiễm đồng thời HBV và HDV là dạng nhiễm trùng nguy hiểm, tiến triển nhanh hơn và dễ gây biến chứng nặng như xơ gan, suy gan hay ung thư gan. Vì vậy, việc theo dõi và chăm sóc bệnh nhân cần được thực hiện nghiêm ngặt, toàn diện và lâu dài.
- Theo dõi chặt chẽ: Người bệnh cần được theo dõi chặt chẽ, kiểm tra và xét nghiệm thường xuyên để đảm bảo không có bất kỳ biến chứng nào xảy ra.
- Sử dụng thuốc theo khuyến cáo: Người bệnh nên sử dụng thuốc điều trị theo hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc vì có thể ảnh hưởng đến gan, sức khỏe, thậm chí đe dọa đến tính mạng.
- Kiêng rượu bia: Rượu bia là chất độc hại nhất cho gan, làm tăng tốc độ xơ gan lên gấp nhiều lần. Bệnh nhân nhiễm HBV-HDV phải kiêng tuyệt đối.
- Chế độ dinh dưỡng hợp lý: Nên xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ các chất cần thiết. Đồng thời, hạn chế các thực phẩm không tốt như đồ ăn nhiều dầu mỡ, chiên xào, thức ăn nhanh…
- Đi khám nếu có dấu hiệu cảnh báo: Người bệnh cần đến bệnh viện ngay khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường.

Phương pháp phòng ngừa
Tiêm vắc xin viêm gan B là biện pháp phòng ngừa viêm gan B và viêm gan D an toàn, hiệu quả và tiết kiệm nhất. Vắc xin giúp cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, chống lại HBV, giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh và biến chứng do bệnh gây ra. Các nghiên cứu đã chứng minh, hơn 95% trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên khỏe mạnh sản sinh ra kháng thể anti-HBs bảo vệ sau khi tiêm đủ phác đồ.
Bên cạnh việc tiêm vắc xin đầy đủ, đúng lịch theo khuyến cáo, để phòng ngừa viêm gan B và viêm gan D, người dân cần chú ý thực hiện các biện pháp sau:
- Quan hệ tình dục an toàn: Luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ với bạn tình chưa rõ tình trạng viêm gan B. Khuyến khích bạn tình được xét nghiệm và tiêm vắc xin viêm gan B đầy đủ để giảm nguy cơ lây nhiễm.
- Không dùng chung vật dụng cá nhân có thể dính máu, chẳng hạn như dao cạo râu, bàn chải đánh răng, cây móc tay, dụng cụ cắt móng… nhằm tránh tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể có thể chứa virus.
- Sử dụng kim tiêm mới, vô trùng, tuyệt đối không sử dụng chung bơm kim tiêm dưới bất kỳ hình thức nào.
- Thực hiện thủ thuật y khoa tại cơ sở uy tín và đảm bảo tất cả dụng cụ được khử khuẩn đúng quy trình; người làm nghề y phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về an toàn sinh học để hạn chế tối đa nguy cơ phơi nhiễm HBV - HDV.

Viêm gan virus B mạn có tác nhân delta là tình trạng nguy hiểm với tốc độ tiến triển nhanh, dễ dẫn đến xơ gan, ung thư gan và các biến chứng nặng nếu không được điều trị kịp thời. Việc nhận biết sớm thông qua các dấu hiệu cảnh báo, thăm khám định kỳ và xét nghiệm chuyên sâu như HBV DNA, HDV RNA đóng vai trò then chốt trong việc xác định bệnh. Do đó, khi có triệu chứng nghi ngờ hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao, người bệnh nên chủ động đến cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán và theo dõi.
- What is Hepatitis Delta?» Hepatitis B Foundation. (2025). Hepb.org. https://www.hepb.org/research-and-programs/hepdeltaconnect/what-is-hepatitis-delta/
- Negro, F. (2014). Hepatitis D Virus Coinfection and Superinfection. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4208707/
- Sagnelli, C., Sagnelli, E., Russo, A., Pisaturo, M., Occhiello, L., & Coppola, N. (2021). HBV/HDV Co-Infection: Epidemiological and Clinical Changes, Recent Knowledge and Future Challenges. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7926847/







