Enterovirus gây bệnh gì? Các chủng phổ biến và cách phòng ngừa nhiễm

21:35 31/10/2025

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Enterovirus là nhóm virus đường ruột phổ biến, lây lan nhanh chóng qua đường tiêu hóa và hô hấp, gây ra nhiều bệnh lý từ nhẹ đến nghiêm trọng như tay chân miệng, viêm màng não, viêm cơ tim, thậm chí bại liệt. Mỗi năm, virus Entero khiến hàng triệu người nhiễm bệnh, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Chính sự đa dạng trong biểu hiện lâm sàng khiến virus này luôn là mối quan tâm lớn của y tế toàn cầu.
| ThS.BS Nguyễn Văn Quảng - Quản lý Y khoa vùng 4 - miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: “Tại Hoa Kỳ, mỗi năm virus đường ruột ảnh hưởng đến khoảng 30 - 50 triệu người, trong đó có hàng trăm nghìn người phải nhập viện, bị thương vĩnh viễn hoặc tử vong. Mỗi năm virus này gây ra 30.000 - 50.000 ca nhập viện do viêm màng não, trong đó có 10 - 15 triệu ca nhiễm trùng. Trong một cuộc khảo sát dịch tễ về nhiễm trùng virus-entero không phải bại liệt từ Rochester, New York, Hoa Kỳ cho thấy, 12,8% trẻ sơ sinh có kết quả xét nghiệm dương tính, trong đó 79% không có triệu chứng và 21% có triệu chứng lờ đờ, sốt và tỷ lệ nhập viện khoảng 7 trên 1000 trẻ sinh sống”. |

Enterovirus là gì?
Entero-virus là một nhóm virus thuộc họ Picornaviridae, là nguyên nhân phổ biến gây nhiễm trùng ở mọi lứa tuổi với các triệu chứng thần kinh, hô hấp, da và tiêu hóa từ nhẹ đến nghiêm trọng. Virus-entero ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới mỗi năm và được tìm thấy trong dịch tiết đường hô hấp (nước bọt, đờm, dịch nhầy mũi) và phân của người bị nhiễm bệnh. Virus có tính chất lây lan theo mùa, với số ca mắc thường tăng cao vào mùa hè và đầu mùa thu, đặc biệt tại các khu vực khí hậu ôn đới.
Về mặt cấu trúc, Enterovirus đều có kích thước nhỏ từ 15 - 30 nm. Vỏ capsid có hình nhị thập diện và chứa RNA mạch đơn dương dài khoảng 7400 nucleotide. Có 81 loại virus đường ruột không phải bại liệt và 3 loại virus gây bại liệt có thể gây bệnh ở người. Trong số 81 loại không phải bại liệt, có 22 loại virus Coxsackie A, 6 loại virus Coxsackie B, 28 loại Echovirus và 25 loại virus khác. Một số bệnh do virus-entero gây ra bao gồm bệnh tay chân miệng, viêm màng não, viêm cơ tim, viêm kết mạc, bại liệt… (1)

Các chủng phổ biến của virus Enterovirus
Có hơn 26 bệnh hoặc tình trạng bệnh lý đã được xác định là do virus đường ruột gây ra. Dựa vào cấu trúc vật lý của virus, môi trường cấy mô mà chúng phát triển và cơ chế sinh bệnh ở người, có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Dưới đây là các chủng phổ biến của Entero-virus:
1. Enterovirus D68 (EV-D68)
EV-D68 lần đầu được phát hiện ở California vào năm 1962. Chủng virus này thường gây ra bệnh đường hô hấp từ nhẹ đến nặng, thường bắt đầu bằng các triệu chứng cảm lạnh như sổ mũi và ho, sốt. Đối với trường hợp nghiêm trọng có thể xuất hiện triệu chứng khó thở, thở khò khè hoặc các vấn đề về hơi thở.
2. Coxsackievirus
Coxsackievirus là một loại virus thuộc họ Picornaviridae, gồm 29 tuýp và được chia thành 2 nhóm chính gồm nhóm A và nhóm B. Coxsackievirus có hình dạng hình cầu, đường kính 27 - 30 nm, lớp capsid gồm 60 tiểu đơn vị, không có lớp bao ngoài. Coxsackie nhóm A có thể gây ra các bệnh như viêm họng, phát ban ngoài da, bệnh tay chân miệng, gây viêm kết mạc chảy máu, viêm màng não vô khuẩn… Trong khi đó, Coxsackie nhóm B gây viêm cơ tim ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp trên, viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim...
3. Echovirus
Echovirus là một loại virus đường tiêu hoá thuộc nhóm Enterovirus, thường gây bệnh ở trẻ em. Hiện đã xác định hơn 30 tuýp virus Echovirus, trong đó phần lớn liên quan đến các ca viêm màng não vô khuẩn, đôi khi kèm theo ban dạng rubeon (phát ban giống rubella, nhưng không nhất thiết do virus rubella gây ra, mà có thể xuất hiện trong nhiều bệnh khác nhau).
Riêng tuýp 16 gây bệnh phát ban Boston khởi phát với các triệu chứng như sốt, buồn nôn, đau họng, mọc ban giống như hoa ở mặt và thân, kéo dài từ 1 - 10 ngày. Echovirus có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan, tuy nhiên, các biểu hiện thần kinh như viêm màng não, viêm não, cùng với biểu hiện ngoài da là phổ biến nhất.
4. Poliovirus
Poliovirus là virus gây bệnh bại liệt, có cấu tạo gồm 1 bộ gen RNA và lớp vỏ bọc protein. Đây là bộ gen RNA dương (+) sợi đơn dài khoảng 7500 nucleotide. Các hạt virus có đường kính khoảng 30 nm và đối xứng hai mặt. Poliovirus được Karl Landsteiner và Erwin Popper phân lập lần đầu vào năm 1909. (2)
Poliovirus có 3 tuýp và cả 3 đều có nguy cơ gây bệnh. Tuýp 1 có tên gọi là Brunhilde, là nguyên nhân gây bệnh bại liệt chính, chiếm 90% tất cả các trường hợp. Tuýp 2 có tên là Lansing và tuýp 3 có tên Leon. Hiện nay, virus bại liệt tuýp 2 và 3 đã được thanh toán hoàn toàn trên thế giới, chỉ còn tuýp 1 lưu hành ở một số quốc gia như Pakistan và Afghanistan.

Các bệnh gây ra bởi nhóm Enterovirus
Hầu hết hệ miễn dịch của con người đủ mạnh để chống lại các nhiễm trùng do virus Entero mà không gây ra hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, một số chủng virus có thể gây ra các bệnh lý nghiêm trọng như:
- Herpangina: Do Coxsackievirus, Echovirus và EV71 gây ra với các triệu chứng như mụn nước hình thành ở phía sau miệng, gần amidan và sốt, đau họng. Các mụn nước Herpangina có thể tự khỏi trong khoảng 1 tuần.
- Bệnh tay chân miệng: Do Coxsackievirus A6 gây ra và thường ảnh hưởng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Bệnh gây sốt và xuất hiện các mụn nước trong suốt hoặc xám ở tay chân miệng, xung quanh có các vòng đỏ. Các mụn nước này có thể gây đau trong khoảng 1 tuần.
- Viêm kết mạc xuất huyết cấp tính (đau mắt đỏ): Thường do coxsackievirus A24 và EV70 gây ra. Các triệu chứng điển hình của bệnh như đau, sưng và đỏ mắt, chảy nước mắt nhiều. Các triệu chứng thường tự khỏi trong vòng tối đa 2 tuần và không để lại di chứng lâu dài.
- Viêm não: Các triệu chứng điển hình như mù lòa, hôn mê, co giật và mất cả năng vận động hoặc phối hợp. Khoảng 10% số người bị viêm não sẽ tử vong. Ở châu Á, các đợt bùng phát lớn của EV71 dẫn đến viêm não đã gây ra nhiều ca tử vong ở trẻ em.
- Viêm cơ tim: Là tình trạng viêm cơ tim và túi bao quanh tim. Các loại Entero-virus thường gây ra viêm cơ tim bao gồm Coxsackievirus B3 và B2. Các triệu chứng của bệnh bao gồm khó thở, mệt mỏi và đau ngực. Các triệu chứng có thể giống cảm giác đau tim và có thể trở nên trầm trọng khi nằm xuống.
- Viêm màng não do virus: Là tình trạng viêm màng não bao quanh não và tủy sống, thường do Echovirus 13, 18 và 30 gây ra. Khi nhiễm virus, người bệnh sẽ có các triệu chứng như mệt mỏi, sốt, đau đầu, lú lẫn. Người bệnh có thể mất ý thức và suy giảm chức năng. Hầu hết các trường hợp bệnh đều nhẹ và có thể tự khỏi trong vòng 7 - 10 ngày.
- Nhiễm trùng huyết: Do Echovirus và các loại Coxsackievirus B gây ra với các dấu hiệu điển hình như khó thở, da và mắt vàng, khó bú và lờ đờ.
- Đau màng phổi: Là tình trạng đau đớn trong đó lớp niêm mạc bao quanh phổi bị viêm. Các loại virus-entero có khả năng gây đau màng phổi cao nhất là Echovirus và Coxsackievirus.
- Nhiễm trùng EV-D68: EV-D68 gây ra các triệu chứng như cảm lạnh thông thường với các triệu chứng như khó thở, thở khò khè. Trẻ bị nhiễm trùng có thể bị yếu tay chân, dẫn đến liệt mềm cấp tính.
- Bại liệt: Do Poliovirus, một chủng thuộc nhóm Enterovirus gây ra. Bệnh gây liệt mềm cấp tính, thường ở chi dưới và có nguy cơ tử vong nếu ảnh hưởng đến cơ hô hấp. (3)
Phương thức lây lan của virus Enterovirus
Virus đường ruột là nhóm virus có khả năng lây lan nhanh chóng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của cả trẻ em và người lớn. Virus này thường lây truyền chủ yếu qua các con đường sau:
1. Lây qua đường phân - miệng
Lây truyền qua đường phân – miệng là con đường phổ biến nhất mà virus xâm nhập vào cơ thể người. Virus có thể tồn tại trong phân của người nhiễm và dễ dàng lan sang người khác thông qua tay không rửa sạch, thực phẩm, nước uống hoặc vật dụng bị ô nhiễm. Nguy cơ lây nhiễm càng tăng cao trong môi trường thiếu vệ sinh và thói quen vệ sinh cá nhân không đảm bảo.
2. Lây qua giọt bắn từ người nhiễm bệnh
Virus entero có thể lây truyền thông qua đường hô hấp, qua giọt bắn từ người nhiễm bệnh. Khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nói chuyện, các giọt bắn chứa virus sẽ phát tán vào không khí và có thể lây truyền sang người khác khi hít phải.
3. Tiếp xúc với bề mặt nhiễm virus
Virus đường ruột có khả năng sống sót trên các bề mặt vật dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi một người lành chạm tay vào các vật dụng như đồ chơi, tay nắm cửa, bàn ghế, điện thoại… có chứa virus và đưa lên mắt, mũi, miệng, virus có thể xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.

Đối tượng có nguy cơ cao nhiễm virus Entero
Bất kỳ ai cũng có thể nhiễm virus đường ruột, nhưng một số nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn và dễ gặp biến chứng nghiêm trọng. Cụ thể:
- Trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi: Hệ miễn dịch của trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi còn non yếu và chưa phát triển đầy đủ để chống lại virus. Bên cạnh đó, thói quen mút tay, đưa đồ chơi vào miệng hoặc sinh hoạt chung tại nhà trẻ, trường hợp cũng khiến trẻ dễ mắc bệnh hơn.
- Người có hệ miễn dịch suy yếu: Người cao tuổi và người mắc các bệnh lý nền thường dễ mắc bệnh và có nguy cơ gặp biến chứng nặng nếu không được điều trị kịp thời.
- Phụ nữ mang thai: Khi mang thai, hệ miễn dịch của phụ nữ thường suy yếu khiến việc chống lại virus trở nên khó khăn hơn, dễ bị nhiễm trùng và gặp biến chứng.
- Người sống ở môi trường đông đúc: Những người sống ở khu vực có mật độ dân số cao, điều kiện vệ sinh kém sẽ dễ bị nhiễm virus hơn.
Dịch tễ của virus Entero
Enterovirus có mặt ở khắp mọi nơi, gây bệnh trên toàn thế giới và quanh năm. Phần lớn các trường hợp chủ yếu gây bệnh ở trẻ em. Ở vùng khí hậu ôn đới, các đợt bùng phát bệnh thường xảy ra vào mùa hè và đầu mùa thu. Các đợt bùng phát vào mùa đông thường là các loại EV30, CV-46, EV-D68. Theo thống kê, có khoảng 66% virus Entero không phải bại liệt gây bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi tại châu Âu.
Năm 2014, hơn một nghìn người lớn và trẻ em trên toàn thế giới bị nhiễm trùng và nhập viện bởi EVD68. Theo CDC Hoa Kỳ, có hàng triệu người Hoa Kỳ nhiễm EVD68 nhưng không được điều trị và xét nghiệm. Có khoảng 14 bệnh nhân được xác định tử vong và hơn 130 bệnh nhân bị liệt do liệt mềm cấp tính trong đợt bùng phát này. Đến tháng 8/2016, CDC Hoa Kỳ đã báo cáo có khoảng 50 trường hợp nhiễm EVD68 được xác định tại 24 tiểu bang.
Năm 2015, EV71 gây ra một đợt bùng phát lớn trên toàn thế giới, tập trung vào trẻ em châu Á. Tại Việt Nam, mỗi năm EV71 gây ra hàng trăm nghìn ca mắc tay chân miệng. Tính đến tháng 8/2023, cả nước ghi nhận 68.096 trường hợp mắc, trong đó có 18 ca tử vong. Đến năm 2024, cả nước ghi nhận hơn 76.000 ca mắc.
Tại Pháp, năm 2022 có 443 ca nhiễm virus đường ruột ở trẻ sơ sinh và có 7 ca tử vong. Trong đó, 72% có loại virus Entero đã biết. E-11 là loại lưu hành phổ biến nhất và được xác định ở 30,3% nhiễm ở trẻ sơ sinh.

Triệu chứng và biến chứng của bệnh
Virus Entero có thể gây ra nhiều bệnh lý khác nhau từ nhẹ đến nặng. Dưới đây là các triệu chứng điển hình và biến chứng nguy hiểm của virus này:
1. Triệu chứng khi mắc Virus đường ruột (Ở cả người lớn và trẻ nhỏ)
Trong nhiều trường hợp, virus đường ruột không gây ra triệu chứng. Nếu có, các triệu chứng thường nhẹ và có thể biến mất sau vài ngày. Các triệu chứng khi mắc virus Entero gồm:
- Sốt;
- Đau nhức cơ bắp;
- Đau họng;
- Sổ mũi;
- Hắt hơi;
- Ho;
- Khó thở;
- Khò khè;
- Buồn nôn và nôn;
- Tiêu chảy;
- Các vết loét đỏ hoặc mụn nước trong suốt màu trắng ở miệng và lòng bàn tay, lòng bàn chân (bệnh tay chân miệng);
- Phát ban đỏ trên diện rộng của cơ thể;
- Yếu cơ hoặc tê liệt do nhiễm virus bại liệt;
2. Biến chứng nguy hiểm
Mặc dù đa số các ca bệnh thường tự khỏi sau vài ngày nhưng một số chủng virus có thể gây biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đe dọa tính mạng người bệnh. Các biến chứng có thể gặp như:
- Viêm não: Virus có thể xâm nhập hệ thần kinh trung ương, gây rối loạn ý thức, co giật, hôn mê.
- Viêm màng não: Nhiễm trùng lớp màng bao quanh não và tủy sống, với biểu hiện sốt cao, đau đầu, cứng cổ, buồn nôn.
- Viêm cơ tim: Làm suy giảm chức năng tim, có thể gây rối loạn nhịp tim, suy tim cấp.
- Viêm gan: Gây tổn thương gan, làm men gan tăng cao, mệt mỏi, vàng da.
- Viêm kết mạc: Gây đỏ mắt, đau, sưng mí mắt và dễ lây lan trong cộng đồng.
- Tổn thương phổi: Một số chủng virus có thể gây viêm phổi nặng, suy hô hấp, đặc biệt ở trẻ nhỏ và người có hệ miễn dịch yếu.

Cách chẩn đoán và điều trị bệnh
Virus Entero có thể gây ra các triệu chứng như sốt, ho, đau đầu… tương tự như cảm lạnh, cúm hoặc sốt virus thông thường. Do đó, việc chẩn đoán và điều trị kịp thời đóng vai trò quan trọng, giúp ngăn ngừa biến chứng hiệu quả.
1. Chẩn đoán
Để chẩn đoán, bác sĩ sẽ hỏi về triệu chứng và tiền sử sức khỏe. Sau đó sẽ tiến hành khám sức khỏe tổng quát, có thể bao gồm khám miệng, mắt, da và nghe lồng ngực. Trong trường hợp triệu chứng nghiêm trọng, bác sĩ có thể yêu cầu thực hiện một số xét nghiệm như:
- Nuôi cấy virus: Bác sĩ sẽ lấy một mẫu nhỏ nước bọt, máu, nước tiểu hoặc phân để mang đi xét nghiệm tìm virus.
- Phản ứng chuỗi polymerase: Lấy mẫu máu, nước bọt hoặc nước tiểu để tìm virus.
- Xét nghiệm dịch tủy sống: Lấy mẫu dịch tủy sống bằng cách đưa cây kim nhỏ vào lưng. Dịch tủy sống được xét nghiệm nồng độ một số hóa chất và tế bào nhất định.
- Xét nghiệm máu: Lấy máu từ tĩnh mạch sau đó xét nghiệm để tìm các hóa chất có thể cho thấy nguyên nhân gây bệnh hoặc các vấn đề nội tạng của trẻ.
- Chụp X-quang: Kiểm tra phổi và tim.
- Điện tâm đồ: Để kiểm tra hoạt động điện của tim.
- Siêu âm tim: Sử dụng sóng âm và máy tính để quan sát cấu trúc và chuyển động của tim.
2. Điều trị bệnh
Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào triệu chứng, mức độ nghiêm trọng của bệnh và độ tuổi, sức khỏe tổng quát của người bệnh. Hiện nay, vẫn chưa có thuốc kháng virus có thể điều trị virus đường ruột, việc điều trị chủ yếu tập trung vào làm giảm triệu chứng, giúp người bệnh dễ chịu hơn như:
- Sử dụng thuốc hạ sốt, giảm đau như Acetaminophen và Ibuprofen. Tuyệt đối không cho trẻ em hoặc thanh thiếu niên uống Aspirin vì có thể dẫn đến hội chứng Reye, ảnh hưởng đến não và gan.
- Bác sĩ có thể kê thuốc, gel bôi làm dịu cơn đau do vết loét trong miệng.
- Uống nhiều nước và nghỉ ngơi đầy đủ giúp người bệnh lấy lại năng lượng, hỗ trợ chống lại bệnh tật tốt hơn.
- Thay đổi chế độ ăn, cho người bệnh ăn các loại thức ăn mềm, lỏng và dễ tiêu hóa để tăng cường sức đề kháng, đẩy lùi bệnh tốt hơn.
- Với những trường hợp nghiêm trọng, bác sĩ có thể kê thuốc opioid để giảm đau, thuốc điều trị bệnh tim, truyền dịch tĩnh mạch để bù nước…
Cách phòng ngừa bệnh
Để giảm nguy cơ lây nhiễm và bùng phát bệnh do virus đường ruột gây ra, trẻ em và người lớn cần áp dụng các biện pháp sau:
- Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch, đặc biệt sau khi đi vệ sinh, thay tã và trước khi ăn.
- Giữ vệ sinh cá nhân và môi trường sống: lau chùi bề mặt, đồ chơi, tay nắm cửa, bàn ghế bằng dung dịch khử khuẩn.
- Không dùng chung đồ dùng cá nhân như khăn mặt, cốc uống nước, bàn chải đánh răng… với người khác.
- Ăn chín, uống sôi, sử dụng thực phẩm hợp vệ sinh, tránh dùng nước chưa đun sôi.
- Tránh tiếp xúc gần với người nghi ngờ mắc bệnh hoặc có triệu chứng nhiễm virus.
- Tăng cường sức đề kháng bằng chế độ ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, vận động hợp lý.
- Tiêm vắc xin phòng bệnh: Poliovirus, một chủng thuộc nhóm virus có thể gây bệnh bại liệt. Do đó, để phòng bệnh bại liệt, trẻ em cần tiêm đầy đủ vắc xin phòng bệnh bại liệt. Hiện nay, VNVC có đầy đủ, số lượng lớn vắc xin phòng bệnh bại liệt như: vắc xin 6 trong 1 Infanrix Hexa (Bỉ), Hexaxim (Pháp), vắc xin 5 trong 1 Pentaxim, vắc xin 4 trong 1 Tetraxim.

Enterovirus là một nhóm virus phổ biến có thể gây ra nhiều bệnh từ nhẹ như tay chân miệng đến những biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, viêm cơ tim, bại liệt có thể đe dọa đến tính mạng. Để bảo vệ sức khỏe, trẻ em và người lớn nên rửa tay thường xuyên, vệ sinh môi trường sống và tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Đặc biệt, nếu có dấu hiệu bất thường cần đến bệnh viện ngay để kiểm tra và điều trị kịp thời.
- Sinclair, W., & Omar, M. (2023, July 31). Enterovirus. Nih.gov; StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK562330/
- Những người đóng góp vào các dự án Wikimedia. (2020, August 29). Virus bại liệt. Wikipedia.org; Quỹ Wikimedia. https://vi.wikipedia.org/wiki/Virus_b%E1%BA%A1i_li%E1%BB%87t
- Brouwer, L., Giulia Moreni, Wolthers, K. C., & Dasja Pajkrt. (2021). World-Wide Prevalence and Genotype Distribution of Enteroviruses. Viruses, 13(3), 434–434. https://doi.org/10.3390/v13030434







