Nhiễm trùng uốn ván ủ bệnh bao lâu thì bùng phát?

14:02 02/01/2026

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Uốn ván là bệnh nhiễm trùng cấp tính cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Việc nhận biết sớm và hiểu rõ nhiễm trùng uốn ván ủ bệnh bao lâu giúp người bệnh chủ động theo dõi sức khỏe sau khi bị thương, xử trí đúng cách và phòng ngừa hiệu quả.
| BS Phạm Đình Đông, Quản lý Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC cho biết: “Nhiễm trùng uốn ván gây ra khoảng 1 triệu ca mắc bệnh mỗi năm (1), chủ yếu ảnh hưởng đến nhóm người chưa được tiêm phòng và sống trong điều kiện môi trường kém. Sự hạn chế trong việc nhận biết và chẩn đoán sớm bệnh đã góp phần vào tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, với khoảng 213.000 - 293.000 ca tử vong được báo cáo trên toàn thế giới (2)”. |

Nhiễm trùng uốn ván ủ bệnh bao lâu?
Thời gian ủ bệnh uốn ván dao động từ 3 đến 21 ngày kể từ khi lây nhiễm mầm bệnh, trung bình ủ bệnh trong vòng 14 ngày. Tuy nhiên, thời gian này cũng có thể ngắn hoặc dài hơn, tùy vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của vết thương.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ cũng chỉ ra, đối với thể bệnh uốn ván toàn thân và cục bộ, thời gian ủ bệnh kéo dài từ 3 - 21 ngày, trung bình là 8 ngày. Đối với uốn ván sơ sinh, thường xuất hiện từ 4 - 14 ngày, trung bình khoảng 7 ngày; uốn ván đầu thường nguy hiểm hơn, thời gian ủ bệnh trong khoảng 1 -2 ngày. (3)
Thời gian ủ bệnh được định nghĩa là khoảng thời gian từ khi lây nhiễm mầm bệnh đến khi biểu hiện triệu chứng đầu tiên. Thời gian ủ bệnh ngắn thường báo hiệu nguy cơ diễn tiến nặng, tử vong cao hơn. Tuy nhiên thời gian ủ bệnh dài không đồng nghĩa với mức độ bệnh nhẹ hơn, bởi độc lực của vi khuẩn và tình trạng tổn thương vẫn có thể gây ra biến chứng nghiêm trọng. (4)
Uốn ván là bệnh truyền nhiễm cấp tính do nhiễm trùng bào tử của vi khuẩn Clostridium tetani gây ra. Bào tử này được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong môi trường, đặc biệt là trong đất, tro, đường ruột/phân của động vật và người, cũng như trên bề mặt da và các dụng cụ gỉ sét như đinh, kim, dây thép gai.... Do rất bền với nhiệt và hầu hết các chất khử trùng, bào tử có thể tồn tại trong nhiều năm ở môi trường bên ngoài.

Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian ủ bệnh uốn ván
Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian ủ bệnh uốn ván chủ yếu liên quan đến vị trí vết thương, mức độ tổn thương mô, tải lượng vi khuẩn và tình trạng miễn dịch của người nhiễm bệnh.
1. Vị trí vết thương
Bệnh uốn ván bắt nguồn từ việc nhiễm trùng bào tử uốn ván từ các vết thương đâm thủng, trầy xước, bỏng, tiêm chích, phẫu thuật, gãy xương phức tạp, vết cắn hoặc vết trầy xước của động vật, nhiễm trùng đường tiêu hóa, phá thai và sinh nở. Đây cũng là cơ sở để giải thích thắc mắc nhiễm trùng uốn ván ủ bệnh bao lâu, CDC Hoa Kỳ cho biết, vị trí sang thương càng xa hệ thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh càng kéo dài.
Theo nghiên cứu, từ vị trí tổn thương, một lượng nhỏ độc tố uốn ván cũng có thể đi lên trục thần kinh (đôi khi lên trục tủy sống về phía đầu), gây uốn ván cục bộ. Thời điểm khởi phát tổn thương cơ thể tỷ lệ thuận với khoảng cách từ dây thần kinh đến vị trí chấn thương.
2. Mức độ tổn thương mô
Vi khuẩn C.tetani thường không phát triển trong mô khỏe mạnh, nên các mô thiếu máu cục bộ hoặc hoại tử là yếu tố nguy cơ thúc đẩy vi khuẩn phát triển, rút ngắn thời gian ủ bệnh. Do đó, uốn ván thường được mô tả trong các trường hợp lâm sàng có tổn thương mô như nhiễm trùng gốc rốn ở trẻ sơ sinh, sảy thai nhiễm trùng, nhiễm trùng hoại tử sau phẫu thuật (đặc biệt là các trường hợp liên quan đến hệ vi khuẩn đường ruột), nhiễm trùng răng và nhiễm trùng loét chi do đái tháo đường. (5)
3. Lượng vi khuẩn xâm nhập
Mức độ nhiễm khuẩn tại vết thương là một yếu tố quan trọng quyết định thời gian ủ bệnh uốn ván. Khi số lượng bào tử uốn ván xâm nhập nhiều, độc tố được sản xuất nhanh hơn đến tế bào thần kinh thông qua hệ thống máu và bạch huyết, gây ra tình trạng co thắt các vị trí xa vị trí nhiễm trùng, trước tiên ảnh hưởng đến các cơ có đường dẫn truyền thần kinh ngắn nhất.
4. Tình trạng tiêm phòng uốn ván
Theo chuyên gia y tế, việc sản sinh độc tố uốn ván phụ thuộc vào khả năng sinh sôi của vi khuẩn C.tetani trong cơ thể vật chủ, nhưng vi khuẩn này không thể sinh sôi ở những bệnh nhân có miễn dịch đầy đủ. Vì vậy, sự khởi phát bệnh thường liên quan đến việc không được tiêm phòng hoặc tiêm chủng chưa đầy đủ.
Theo Báo cáo từ Hoa Kỳ, có tới ⅔ số bệnh nhân bị uốn ván đã không xử lý vết thương và không thực hiện dự phòng bằng vắc xin hoặc huyết thanh uốn ván.

Dấu hiệu nhận biết uốn ván phát bệnh
Theo CDC Hoa Kỳ, độc tố uốn ván can thiệp vào việc giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh và ngăn chặn xung động ức chế, gây ra các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh như các cơn co thắt và co cứng cơ không đối kháng. Mức độ nghiêm trọng và tần suất của các triệu chứng lâm sàng sẽ phụ thuộc vào lượng độc tố uốn ván xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương. Thông thường, bệnh biểu hiện nặng hơn ở những người có vết thương xuyên thấu sâu
Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng tương quan với thời gian ủ bệnh (thời gian từ khi bị thương đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên) và khoảng thời gian từ khi khởi phát triệu chứng và đến khi xuất hiện co thắt. Những khoảng thời gian này kéo dài hơn sẽ liên quan đến các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn.
- Uốn ván toàn thân: Dạng bệnh lâm sàng phổ biến và nghiêm trọng nhất, đặc trưng bởi hoạt động quá mức của hệ thần kinh thực vật và co thắt cơ xương dữ dội. Bệnh bắt đầu bằng chứng cứng hàm (co thắt dữ dội, đau đớn ở cơ nhai và không thể mở miệng, còn gọi là “khóa hàm”) ở hơn 80% trường hợp. Các cơn co thắt còn gây ra các triệu chứng điển hình như cổ cứng, co cứng hàm, co thắt cơ duỗi cột sống, co giật, bụng cứng như ván, khó nuốt, các giai đoạn ngừng thở hoặc tắc nghẽn đường hô hấp trên do co thắt cơ ngực, cơ thanh quản, cơ hầu… Ngoài ra, các cơn co thắt có thể được kích hoạt bởi tiếng ồn lớn hoặc kích thích giác quan như tiếp xúc vật lý hoặc ánh sáng. Trong các cơn co thắt uốn ván toàn thân, bệnh nhân thường nắm chặt tay, cong lưng, gập và dang tay trong khi duỗi chân, thường bị ngừng thở trong những tư thế mạnh này.
- Uốn ván cục bộ: Biểu hiện bằng tình trạng co thắt cơ ở một chi hoặc một vùng cơ thể (thường gần vị trí chấn thương), nguy cơ tiến triển thành uốn ván toàn thân.
- Uốn ván đầu: Một dạng uốn ván khu trú chỉ ảnh hưởng đến các dây thần kinh sọ, biểu hiện chứng khó nuốt, cứng hàm và bệnh lý thần kinh sọ khu trú, thường khiến bác sĩ lâm sàng chẩn đoán nhầm là đột quỵ.
- Uốn ván sơ sinh: Trẻ sẽ có biểu hiện bú và khóc bình thường trong 2 ngày đầu đời. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 28, trẻ sẽ mất khả năng này và cơ thể bắt đầu trở nên cứng đờ hoặc co giật. Sau đó, trẻ ngừng bú và co thắt các cơ mặt, có thể dẫn đến risus sardonicus (co thắt cơ mặt). Tay thường nắm chặt, bàn chân trở nên gấp về phía mu bàn chân và trương lực cơ tăng lên.
Cần làm gì ngay lập tức khi nghi ngờ nhiễm uốn ván?
Khi nghi ngờ nhiễm uốn ván, việc xử trí ngay lập tức là rất quan trọng để giảm nguy cơ biến chứng nặng. Người nghi bị nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế ngay lập tức để được can thiệp kịp thời. Tại Bệnh viện, Bác sĩ sẽ tiến hành xử lý vết thương, ngăn ngừa hoại tử, loại bỏ bào tử uốn ván. Sau đó, thuốc kháng sinh diệt vi khuẩn và huyết thanh trung hòa độc tố uốn ván sẽ được chỉ định.
Đồng thời, Bác sĩ sẽ chỉ định tiêm vắc xin nếu bệnh nhân chưa được tiêm phòng hoặc tiêm chưa đầy đủ. Khoảng 90 - 95% những người được tiêm vắc xin đầy đủ đạt được hiệu quả bảo vệ. Tuy nhiên, khả năng bảo vệ giảm dần theo thời gian kể từ khi tiêm vắc xin và theo độ tuổi, có tới 50% người từ 20 tuổi và 70% người từ 70 tuổi chưa tiêm nhắc lại trong vòng 10 năm có thể không được bảo vệ.

⇒ Tham khảo thêm: Vết thương đã lành có bị uốn ván không?
Như vậy, bài viết trên đây đã giải đáp được thắc mắc: “Nhiễm trùng uốn ván ủ bệnh bao lâu” cho giúp người bệnh chủ động theo dõi sức khỏe, từ đó xử trí và phòng ngừa đúng cách. Thông thường, thời gian ủ bệnh dao động từ 3 đến 21 ngày, có thể dài hoặc ngắn hơn tùy thuộc vào vị trí và mức độ tổn thương. Việc xử lý vết thương và tiêm phòng là yếu tố quan trọng để ngăn ngừa nguy cơ bùng phát bệnh và diễn tiến nặng.
- George, E. K., Jesus, O. D., Tobin, E. H., & Renuga Vivekanandan. (2024, February 26). Tetanus (Clostridium tetani Infection). Nih.gov; StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK482484/
- Fan, Z., Zhao, Y., Wang, S., Zhang, F., & Zhuang, C. (2019). Clinical features and outcomes of tetanus: a retrospective study. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC6529615/
- CDC. (2025, June 10). Clinical Overview of Tetanus. Centers for Disease Control and Prevention. https://www.cdc.gov/tetanus/hcp/clinical-overview/index.html
- Gupta, V., & Karnad, D. R. (2021). Intensive Care Management of Severe Tetanus. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8327798/
- UpToDate. (2026). Uptodate.com. https://www.uptodate.com/contents/tetanus







