VẮC XIN

Rubella (sởi Đức): nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng và cách phòng ngừa

Rubella (hay sởi Đức) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây nên, khả năng lây lan cao nên có thể bùng phát thành dịch. Tất cả những người chưa có miễn dịch với Rubella đều có nguy cơ mắc bệnh, trong đó, trẻ em và thanh thiếu niên là những nhóm đối tượng có nguy cơ cao.

Bài viết dưới đây về bệnh Rubella (sởi Đức) được sự tư vấn của ThS.BS Bùi Ngọc An Pha, Cố vấn chuyên môn Hệ thống Trung tâm tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC.

ThS.BS Bùi Ngọc An Pha
Cố vấn chuyên môn VNVC
Trình độ chuyên môn
  • Thạc sỹ chuyên ngành Nội Nhi Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Bệnh Rubella là gì?

Rubella còn được gọi là sởi Đức hoặc Sởi 3 ngày, là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra. Mặc dù Rubella và Sởi có chung một số đặc điểm như là phát ban đỏ, nhưng Rubella được gây ra bởi một loại virus hoàn toàn khác với bệnh Sởi thông thường.

Rubella nằm trong nhóm bệnh có chỉ số lây nhiễm cao nhất – lên đến 80% ở những người chưa từng có miễn dịch. Dịch bệnh Rubella có tính chu kỳ, trung bình khoảng 7 đến 8 năm, có khi dài hơn. Tại khu vực miền Bắc nước ta, bệnh thường phát triển mạnh ở các tháng mùa Đông – Xuân, còn tại miền Nam bệnh có thể gặp quanh năm.

Rubella là bệnh gì?

Mặc dù nhiễm virus Rubella thường gây sốt nhẹ và phát ban ở trẻ em và người lớn, tuy nhiên, điều đáng lo ngại là nếu phụ nữ mang thai nhiễm virus Rubella trong thai kỳ, đặc biệt là trong 3 tháng đầu, có thể dẫn đến sẩy thai, thai chết lưu, sinh non hoặc trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh, được gọi là hội chứng Rubella bẩm sinh (CRS).

Nguyên nhân gây bệnh Rubella

Nguyên nhân gây bệnh Rubella là do Rubella virus, thuộc họ Togaviridae. Cho đến nay chỉ có 1 týp huyết thanh của virus Rubella được phát hiện và người là ổ chứa duy nhất của chủng virus này. Vì vậy, người đang mắc bệnh Rubella là nguồn truyền nhiễm duy nhất. Virus Rubella có đường kính từ 45 – 75 nm, bao ngoài bằng lipid và trên bề mặt có gai glycoprotein.

Virus Rubella bất hoạt bởi nhiệt độ cao và các loại dung dịch sát khuẩn thông thường. Tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm không khí, virus có thể tồn tại trong trại thái gây bệnh ngoài môi trường từ một đến vài giờ. Những khu vực đông người như trường học, bệnh viện, nhà máy,… là môi trường lây bệnh thường gặp nhất.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus Rubella nhân lên trong các tế bào đường hô hấp, lan đến các hạt lympho rồi vào đường máu. Sau khi nhiễm hoặc tiêm vắc xin phòng bệnh Rubella, cơ thể sẽ có miễn dịch bền vững và bảo vệ trọn đời.

Đường lây truyền bệnh Rubella?

Giống như Sởi hay các bệnh lây truyền qua đường hô hấp, bệnh Rubella lây truyền khi người lành hít phải những giọt nước bọt của người mang mầm bệnh phát tán vào không khí khi hắt hơi, ho, hay nói chuyện. Ngoài ra, Rubella cũng có khả năng lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi hoặc cổ họng của người bị nhiễm bệnh. 

Virus Rubella có khả năng lây truyền cao nhất vào giai đoạn phát ban. Tuy nhiên, bệnh có thể lây nhiễm từ 1 tuần trước khi phát ban và 1 tuần sau khi phát ban. Phụ nữ mang thai có thể lây truyền virus Rubella cho con thông qua nhau thai. Tùy thuộc vào nhiễm virus trong giai đoạn nào của thai kỳ sẽ có những ảnh hưởng khác nhau lên thai nhi.

Đường lây truyền bệnh Rubella

Ở trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh có thể lây truyền virus trong khoảng thời gian 1 năm hoặc lâu hơn. Dịch tiết từ đường hô hấp và nước tiểu trẻ sơ sinh mắc bệnh Rubella bẩm sinh chứa lượng lớn virus trong nhiều tháng. Vì vậy bệnh Rubella bẩm sinh có thể lây truyền từ trẻ cho những người xung quanh chăm sóc trẻ.

Thời gian ủ bệnh và các giai đoạn phát triển của bệnh Rubella

Có 3 giai đoạn phát triển của bệnh Rubella: giai đoạn ủ bệnh, giai đoạn phát bệnh và giai đoạn lui bệnh.

Giai đoạn ủ bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus Rubella thường có thời gian ủ bệnh từ 12 – 23 ngày (trung bình từ 16 – 18 ngày). Ở giai đoạn này, người bệnh đã nhiễm virus Rubella nhưng chưa có biểu hiện bệnh. 

Giai đoạn phát bệnh

Ở giai đoạn phát bệnh, người bệnh Rubella thường có 3 triệu chứng điển hình là sốt và phát ban.

Bệnh nhân Rubella thường sốt nhẹ khoảng 38 độ C đi kèm các triệu chứng nhức đầu, đau họng, chảy mũi trong, một số trường hợp bị đỏ mắt, xuất hiện từ 1 tới 4 ngày. Sau khi người bệnh phát ban thì triệu chứng sốt thuyên giảm.

Phát ban là dấu hiệu đặc trưng nhất ở bệnh nhân Rubella. Ban đầu, ban thường mọc trên đầu, mặt rồi dần dần lan khắp toàn thân không theo quy luật trong vòng 24 giờ. Nốt ban Rubella có hình tròn hoặc bầu dục, ban nhỏ giống ban sởi nổi thành từng mảng hoặc riêng lẻ, có đường kính từ 1 – 2mm. 

Trong một số trường hợp, hạch có thể nổi ở vùng bẹn, cổ, xương chẩm. Hạch thường nổi trước khi phát ban và tồn tại vài ngày sau khi ban lặn hết. 

Ngoài ra, đối với người lớn (phổ biến hơn ở phụ nữ) khi bị nhiễm bệnh, có thể bị viêm khớp và các cơn đau khớp thường kéo dài từ 3 đến 10 ngày. Một khi bị nhiễm bệnh, virus lây lan khắp cơ thể bệnh nhân trong khoảng 5 – 7 ngày. Các triệu chứng thường xuất hiện 2 đến 3 tuần sau khi bệnh nhân tiếp xúc với mầm bệnh.

Giai đoạn lui bệnh

Khi lui bệnh, người bệnh hết sốt, ban lặn nhanh không theo quy luật và không để lại dấu vết trên da, thường sau 1 tuần hạch sẽ trở về bình thường. 

Bệnh thường có diễn biến lành tính và nhẹ hơn Sởi, ít khi xảy ra tình trạng bội nhiễm. Bệnh Rubella hầu như ít có nguy cơ tử vong nhưng vẫn có thể dẫn đến những biến chứng không thể xem thường như viêm não – màng não, viêm rễ thần kinh, sưng khớp và đặc biệt nguy hiểm ở phụ nữ mang thai.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh Rubella

Người lớn hoặc trẻ em đều có nguy cơ mắc bệnh Rubella. Nhưng ở một số đối tượng, nguy cơ mắc bệnh Rubella cao hơn những người khác như:

  • Những người chưa từng tiêm vắc xin phòng bệnh Rubella.
  • Những người chưa từng mắc bệnh Rubella.
  • Người đi đến những quốc gia khác, đặc biệt là những nơi đang thịnh hành dịch Rubella.

Dấu hiệu và triệu chứng nhận biết bệnh Rubella

Rubella theo tiếng Latin có nghĩa là “chấm đỏ”, nên có thể thấy dấu hiệu đặc trưng nhất có thể nhận thấy ở người bệnh Rubella là những ban đỏ xuất hiện từ 14 đến 21 ngày sau khi virus Rubella đi vào cơ thể.

Ở thể Rubella điển hình, những dấu hiệu bệnh thường nhẹ và lành tính, tỷ lệ tử vong và biến chứng thấp. Bệnh nhân thể Rubella điển hình thường sốt nhẹ, biểu hiện ban đỏ, có các dấu hiệu ở cơ quan bạch huyết. Ngoài dấu hiệu điển hình là ban đỏ xuất hiện đầu tiên ở mặt, cổ và lan khắp toàn thân, người bệnh Rubella còn thường gặp tổn thương bạch huyết ở vùng sau tai, vùng chẩm, cổ sau. Ở người lớn mắc bệnh Rubella thường sốt và phát ban nhiều hơn, kèm theo các biểu hiện điển hình là mệt mỏi, biếng ăn, đau khớp.

Dấu hiệu bệnh Rubella

Ở thể Rubella bẩm sinh, phụ nữ khi mang thai mắc bệnh Rubella rất dễ bị sảy thai, đẻ non, gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Ba biến chứng thường gặp nhất ở trẻ mắc Rubella bẩm sinh là đục thủy tinh thể, thiểu năng tim và điếc bẩm sinh. Các biểu hiện của biến chứng có thể đơn thuần hay phối hợp, tổn thương có thể mang tính tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Thông thường, bệnh Rubella rất dễ bị nhầm lẫn với Sởi do có nhiều triệu chứng giống nhau. Để có thể phân biệt được hai căn bệnh này, bạn có thể dựa vào một số điểm đặc trưng sau.

 Bệnh Sởi  Bệnh Rubella
 Triệu chứng của bệnh có thể kéo dài lên đến 10 ngày.

  • Phát ban nổi rõ thành từng đốm, lành vẫn có thể để lại dấu vết.
  • Sốt cao có thể lên đến 40 độ C.
  • Có giai đoạn tiền triệu chứng đặc trưng với các biểu hiện như sốt, chảy nước mũi, ho khan, viêm kết mạc.
 Triệu chứng bệnh có thể kéo dài khoảng 5 ngày.

  • Phát ban nhẹ, mờ nhanh, sau khi khỏi ban biến mất hoàn toàn.
  • Sốt nhẹ
  • Không có giai đoạn tiền triệu chứng.

 Phương pháp chẩn đoán, xét nghiệm bệnh Rubella

Để chẩn đoán chính xác bệnh Rubella, ngoài dựa vào các triệu chứng lâm sàng, dịch tễ, các bác sĩ còn thực hiện một số phương pháp chẩn đoán như: ELISA tìm kháng thể chuyên biệt, HI (Hemagglutination inhibition) – ức chế ngưng kết hồng cầu, IHA (Indirect Hemagglutination) – ngưng kết hồng cầu thụ động, LA (Latex Agglutination) – ngưng kết Latex, xét nghiệm miễn dịch định lượng IgM và IgG. 

Trong các phương các xét nghiệm trên, việc chẩn đoán bệnh Rubella chủ yếu dựa trên xét nghiệm miễn dịch định lượng IgM và IgG. IgM và IgG là hai loại kháng thể trong máu được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch để đáp ứng virus Rubella. Kháng thể này xuất hiện trong máu khi người bệnh tiếp xúc với virus Rubella, tăng lên và đạt đỉnh điểm trong khoảng 7 – 10 ngày sau nhiễm trùng.

Kháng thể IgG xuất hiện muộn hơn IgM nhưng tồn tại suốt đời trong cơ thể để đề phòng sự tái nhiễm virus Rubella.

Video đề xuất:

Biến chứng của bệnh Rubella

Biến chứng của bệnh Rubella thường gặp ở người lớn nhiều hơn ở trẻ em. Khoảng 70% phụ nữ bị nhiễm trùng có thể đau hoặc viêm khớp, viêm não có thể xảy ra ở 1/5000 trường hợp thường gặp nhất là ở phụ nữ, xuất huyết có thể xảy ra ở trẻ em với tỷ lệ 1/3000 trường hợp. 

Rubella còn đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai. Nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể gây ra sảy thai, thai chết lưu hoặc đẻ non. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ này có nguy cơ cao mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với nhiều dị tật nghiêm trọng như dị tật tim, điếc, đục thủy tinh thể, chậm phát triển… Một số trường hợp trẻ tử vong do hậu quả của hội chứng Rubella bẩm sinh.

Nếu mẹ bị nhiễm Rubella trong ba tháng đầu thai kỳ, thì có đến 70% – 100% trẻ đẻ ra bị hội chứng Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não. Thai có nguy cơ bị sẩy, hoặc thai chết lưu trong tử cung; nếu đẻ được thì thai thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như hẹp eo động mạch phổi; trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ.

Nếu mẹ bị nhiễm Rubella từ tuần 13 đến tuần 27 thai kỳ: 

  • Khi thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. 
  • Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ giảm xuống còn 5%.
  • Khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Phương pháp điều trị

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh Rubella. Bệnh thường có diễn biến nhẹ nên không cần sự chăm sóc và điều trị đặc biệt, mà có thể điều trị tại nhà hoặc các cơ sở y tế. Nếu trẻ sốt cao, các bác sĩ hạ sốt cho trẻ bằng những biện pháp như uống nhiều nước, chỉ sử dụng thuốc hạ nhiệt khi thực sự cần thiết và tốt nhất không nên dùng aspirin. Không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm.  

Bệnh nhân Rubella cần kết hợp nghỉ ngơi và ăn uống đầy đủ dinh dưỡng. Giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ, chú ý chăm sóc và vệ sinh răng miệng, bàn tay và thân thể. Khi có dấu hiệu bệnh, bệnh nhân nên sớm đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị, cách ly khi cần thiết để hạn chế việc lây lan cho những người thân xung quanh. 

Phương pháp phòng ngừa

Hai biện pháp chính của phòng bệnh Rubella là cách ly và tiêm phòng bằng vắc xin. Tuy nhiên cách ly là biện pháp mang tính tạm thời và thụ động vì cơ thể nếu không có miễn dịch trước virus Rubella thì hoàn toàn có thể nhiễm bệnh.

Tiêm phòng vắc xin là biện pháp được đánh giá cao về độ an toàn hiệu quả và tính sinh miễn dịch của cơ thể với bệnh Rubella. Vắc xin MMR II (Mỹ) và vắc xin MMR (Ấn Độ) hiện nay được lưu hành ở nước ta, đây là loại vắc xin sống, giảm độc lực giúp phòng 3 bệnh: Sởi, Quai bị và Rubella.

Trẻ em và người lớn đều nên chủ động tiêm phòng vắc xin để ngừa Sởi, Quai bị, Rubella. Vì là vắc xin sống giảm độc lực nên vắc xin MMR II và MMR không được tiêm cho phụ nữ đã mang thai. Trong trường hợp đã lỡ tiêm mới biết mình mang thai, mẹ bầu cần thông báo với bác sĩ sản khoa để được tư vấn biện pháp chăm sóc và theo dõi thai kỳ phù hợp. Việc tiêm vắc xin MMR II và MMR không phải là yếu tố tiên quyết để chỉ định chấm dứt thai kỳ.

Mời bạn xem video để được ThS.BS Bùi Ngọc An Pha tư vấn về trường hợp phát hiện có thai sau khi tiêm vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella

Lịch tiêm chủng của vắc xin MMR II phòng bệnh Sởi, Quai bị, Rubella như sau:

  • Tiêm chủng mũi đầu tiên cho trẻ vào khoảng từ 12 -15 tháng tuổi hoặc muộn hơn để tránh tương tác với kháng thể của mẹ truyền sang con.
  • Mũi tiêm nhắc lại nên được chủng ngừa vào lúc 4 – 6 tuổi, hoặc sớm hơn nếu có dịch xảy ra. Mũi tiêm nhắc lại còn có tác dụng tạo ra biến đổi thể dịch cho những trẻ chưa đáp ứng với mũi tiêm lần trước.

Riêng với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phải tránh mang thai 3 tháng sau khi tiêm vắc xin. 

Với sứ mệnh bảo vệ sức khỏe cho bé yêu và cả gia đình, trung tâm tiêm chủng VNVC có đầy đủ những loại vắc xin cần thiết cho trẻ em và người lớn, được nhập khẩu chính hãng từ các hãng uy tín trong và ngoài nước. Trong đó, vắc xin MMR II được nhập khẩu chính hãng từ Mỹ, được lưu trong hệ thống kho lạnh đạt chuẩn GPS ở VNVC giúp đảm bảo chất lượng tốt nhất cho người sử dụng. 

Không chỉ chú trọng chất lượng của vắc xin, VNVC còn có đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng có trình độ chuyên môn và tay nghề cao. Với 100% bác sĩ và điều dưỡng viên tại VNVC có chứng chỉ an toàn tiêm chủng, được đào tạo bài bản về quy trình, kiến thức xử trí phản ứng sau chích ngừa nhằm đảo bảo an toàn cho khách hàng. 

Khi đến trung tâm tiêm chủng VNVC, khách hàng sẽ được lựa chọn linh hoạt giữa các dịch vụ chích ngừa như chích lẻ, chích theo yêu cầu, mua đặt giữ vắc xin theo yêu cầu. Đặc biệt, dịch vụ chích ngừa trọn gói với nhiều gói vắc xin cho trẻ em, trẻ tiền học đường, tuổi vị thành niên, người trưởng thành, phụ nữ chuẩn bị mang thai sẽ giúp khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất.

Để đặt lịch tiêm vắc xin phòng bệnh Sởi – Quai Bị – Rubella, bạn có thể đăng ký thông tin tại đây, hoặc gọi đến số Hotline  028.7300.6595  để được tư vấn và hỗ trợ.

Trần Phúc


Notice: Undefined index: dem_popups in /home/vnvc/public_html/wp-content/themes/wg/footer.php on line 170