Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao mắc zona thần kinh

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC

13:41 14/08/2026
Zona thần kinh có thể diễn biến nặng và lan rộng ở người mắc ung thư, đặc biệt khi hệ miễn dịch đang bị suy giảm bởi hóa trị, ghép tế bào gốc, một số thuốc điều trị ung thư hoặc thuốc ức chế miễn dịch. Ngược lại, người mắc zona thần kinh cũng có nguy cơ phát hiện ung thư trong những năm tiếp theo cao hơn 2 lần so với những người không mắc zona thần kinh.

Zona thần kinh (hay thường được gọi là giời leo) là bệnh do virus Varicella Zoster (VZV) tái hoạt động sau khi đã tồn tại tiềm ẩn trong các hạch thần kinh từ lần mắc thủy đậu trước đó. Ở người khỏe mạnh, bệnh thường biểu hiện bằng đau rát, châm chích rồi xuất hiện các cụm mụn nước thành dải ở một bên cơ thể, thường tại ngực, lưng, eo hoặc mặt. Tuy nhiên, khi hệ miễn dịch suy yếu, virus có thể được kiểm soát kém hơn, làm tăng nguy cơ zona lan rộng và các biến chứng thần kinh, mắt, phổi hoặc não.
“Ung thư, nhiễm HIV, ghép tạng và các thuốc ức chế miễn dịch là những yếu tố làm tăng nguy cơ zona và biến chứng nặng”, BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo - Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC nhấn mạnh và cho biết thêm có khoảng 30% trường hợp nhập viện vì zona thần kinh sẽ có hệ miễn dịch suy yếu hoặc bị ức chế như ung thư, ghép tạng, ghép tủy xương hoặc ghép tế bào gốc, người nhiễm HIV, người mắc bệnh tự miễn đang điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch. Đặc biệt, bệnh nhân ung thư nằm trong nhóm có nguy cơ mắc zona thần kinh cao nhất trong số 21 bệnh lý nền được xác định là yếu tố nguy cơ của bệnh.
Theo BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo, có hai nguyên nhân chính khiến người bệnh ung thư bị suy giảm miễn dịch:
Thứ nhất, bản thân ung thư trực tiếp làm suy yếu tế bào miễn dịch, giảm khả năng kiểm soát virus. Nghiên cứu cho thấy môi trường xung quanh khối u có thể hình thành trạng thái ức chế miễn dịch, trong đó một số tế bào miễn dịch bị thay đổi chức năng và làm giảm hoạt động của các tế bào miễn dịch khác, bao gồm tế bào miễn dịch lympho T. Các tế bào trong môi trường khối u cũng có thể tiết ra những chất làm giảm đáp ứng miễn dịch. Những thay đổi này giúp tế bào ung thư né tránh sự kiểm soát của hệ miễn dịch và có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh. Đặc biệt, người mắc ung thư huyết học như bệnh bạch cầu, u lympho, đa u tủy có thể dẫn đến suy giảm miễn dịch thứ phát.
Tuy nhiên, không phải cứ mắc ung thư là đồng nghĩa với suy giảm miễn dịch nghiêm trọng. Nguy cơ mắc zona và mức độ nặng của bệnh phụ thuộc vào loại ung thư, giai đoạn bệnh, tình trạng miễn dịch, phương pháp điều trị, loại thuốc đang sử dụng và thời điểm điều trị gần nhất. Những nhóm thường đáng lưu ý hơn gồm người mắc các bệnh máu ác tính như bệnh bạch cầu, lymphoma (u lympho), đa u tủy xương hoặc người vừa ghép tế bào gốc tạo máu hoặc ghép tạng; người đang sử dụng các phác đồ điều trị gây ức chế miễn dịch mạnh; người nhiễm HIV và người phải dùng thuốc ức chế miễn dịch hoặc corticoid kéo dài.
Một nghiên cứu về “Nguy cơ mắc bệnh zona ở bệnh nhân ung thư tại Hoa Kỳ sau khi bắt đầu điều trị ức chế miễn dịch” trong giai đoạn 2015 - 2022, cho thấy người mắc bệnh ác tính huyết học có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4,8 lần, còn người mắc các khối u đặc có nguy cơ cao gần gấp 2 lần. Nguy cơ tiếp tục gia tăng ở những trường hợp đang hóa trị, sử dụng corticoid kéo dài hoặc điều trị bằng các thuốc tác động lên hệ miễn dịch.
Một nghiên cứu khác được thực hiện trên hơn 241.497 người trưởng thành ở Australia từ năm 2006 - 2015, có 20.286 trường hợp bị ung thư mới và 16.350 trường hợp bị zona thần kinh. Đáng chú ý, người bệnh mắc ung thư liên quan huyết học có nguy cơ bị zona cao gấp 3,74 lần so với người không bị ung thư, người có khối u đặc nguy cơ mắc zona tăng 30% so với người không bị ung thư. Bên cạnh đó, bệnh nhân có khối u ác tính đang hóa trị tăng 83% nguy cơ mắc zona thần kinh so với người không bị ung thư. (1)

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ việc điều trị ung thư, với các phương pháp điều trị phổ biến gồm hóa trị và xạ trị. Hóa trị là sử dụng hóa chất làm suy yếu tế bào ung thư đang phát triển nhanh, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến tế bào tạo máu trong tủy xương. Còn xạ trị là phương pháp sử dụng bức xạ ion để tiêu diệt tế bào ung thư, song cũng có thể làm tổn thương các tế bào bình thường liền kề. Bên cạnh đó, người bệnh sử dụng phương pháp ghép tế bào gốc điều trị các bệnh ung thư liên quan huyết học phải sử dụng thuốc ức chế miễn dịch suốt phần đời còn lại. Tất cả các phương pháp này đều làm suy giảm chức năng tế bào miễn dịch làm tăng khả năng mắc bệnh zona thần kinh.
Nghiên cứu trên 17.655 bệnh nhân ung thư tại Nhật Bản cho thấy nguy cơ mắc zona ở người được xạ trị cao hơn 2,59 lần so với người không xạ trị. Các tổn thương zona thường xuất hiện ngay trong vùng từng được chiếu xạ. Trong khi đó, một nghiên cứu khác ghi nhận tỷ lệ mắc zona thần kinh ở bệnh nhân khối u đặc đang hóa trị lên tới 13,8 trường hợp trên 1.000 năm bệnh nhân. Nguy cơ này cũng được ghi nhận tăng cao ở những người điều trị các bệnh lý tự miễn hoặc viêm mạn tính bằng thuốc ức chế miễn dịch, đặc biệt là corticoid toàn thân, thuốc ức chế yếu tố hoại tử u TNF-α và các thuốc chống thấp khớp điều chỉnh bệnh. (2)
Một số nghiên cứu còn ghi nhận mối liên quan giữa zona thần kinh và nguy cơ phát hiện ung thư trong giai đoạn sau đó. Theo các dữ liệu được công bố, những người được chẩn đoán mắc zona thần kinh có tỷ lệ được phát hiện mắc ung thư trong những năm tiếp theo cao hơn 2 lần so với người không mắc zona thần kinh.

BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo cho biết zona thần kinh không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng mụn nước. Đau rát, châm chích, ngứa, tê hoặc tăng nhạy cảm ở một vùng da có thể xuất hiện trước phát ban. Đặc biệt, người đang hóa trị hoặc suy giảm miễn dịch nếu xuất hiện cảm giác đau bỏng theo dải ở ngực, lưng, bụng hoặc mặt nên liên hệ bác sĩ trong ngày, không chờ mụn nước lan rộng mới điều trị.
Bác sĩ lý giải, thuốc kháng virus hiệu quả nhất khi được dùng sớm, thường trong 72 giờ đầu sau khi phát ban xuất hiện, nhưng người đến muộn vẫn có thể cần điều trị nếu còn mụn nước mới, tổn thương chưa đóng vảy hoặc xuất hiện biến chứng. Đặc biệt lưu ý khám sớm với zona ở trán, mí mắt, đầu mũi hoặc tai vì có thể gây biến chứng mắt, thính giác hoặc thần kinh. Người suy giảm miễn dịch có nguy cơ zona lan rộng và tổn thương cơ quan, có thể cần nhập viện và dùng thuốc kháng virus đường tĩnh mạch tùy mức độ bệnh.
|
CÁC DẤU HIỆU BẤT THƯỜNG NGHI NGỜ ZONA THẦN KINH CẦN ĐI KHÁM SỚM
LƯU Ý QUAN TRỌNG CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ: Không nên tự mua acyclovir, valacyclovir để dùng theo đơn của người khác do liều thuốc cần được điều chỉnh theo chức năng thận và tình trạng miễn dịch. Đồng thời, không tự ý ngừng hóa trị, thuốc đích, miễn dịch hay corticoid khi mắc zona; việc điều chỉnh điều trị phải do bác sĩ ung bướu và chuyên khoa liên quan quyết định. |
Bên cạnh phát hiện sớm và điều trị kịp thời, chủ động phòng ngừa bằng vắc xin là giải pháp quan trọng đối với nhóm nguy cơ cao. Người bệnh ung thư dự kiến hóa trị, xạ trị, ghép tế bào gốc hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch nên trao đổi với bác sĩ về vắc xin càng sớm càng tốt, tốt nhất trước khi bắt đầu điều trị. Với vắc xin zona tái tổ hợp Shingrix (GSK, Bỉ) hiện đang được cấp phép lưu hành tại Việt Nam, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ khuyến cáo tiêm 02 liều, cách nhau 1 - 2 tháng theo chỉ định của bác sĩ đối với từng tình trạng sức khỏe cụ thể.
Vắc xin được chỉ định cho người từ 50 tuổi trở lên và người từ 18 tuổi trở lên có nguy cơ cao mắc zona thần kinh, chứng minh hiệu quả trên 97% ở người từ 50 tuổi và 70 - 87% đối với người từ 18 tuổi trở lên có suy giảm miễn dịch do bệnh lý, đồng thời giúp giảm hơn 88% biến chứng đau dây thần kinh sau zona.
BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo lưu ý vắc xin zona thần kinh không có tác dụng điều trị đợt zona cấp. Người đang mắc zona cần được điều trị trước; sau khi bệnh ổn định, vắc xin có thể được cân nhắc để giảm nguy cơ mắc lại. Từng mắc zona không đồng nghĩa đã có miễn dịch bảo vệ suốt đời, bởi bệnh vẫn có thể tái phát. Do đó, ngay cả khi đã từng mắc bệnh, người dân cũng cần tiêm ngừa để phòng tái phát.

Người mắc ung thư, đặc biệt đang hóa trị, ghép tế bào gốc, ghép tạng hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch, hãy trao đổi với bác sĩ về nguy cơ zona và lịch tiêm vắc xin phù hợp ngay từ trước khi bắt đầu điều trị.
- Qian, J., Heywood, A. E., Karki, S., Banks, E., Macartney, K., Chantrill, L., & Liu, B. (2018). Risk of Herpes Zoster Prior to and Following Cancer Diagnosis and Treatment: A Population-Based Prospective Cohort Study. The Journal of Infectious Diseases, 220(1), 3–11. https://doi.org/10.1093/infdis/jiy625
- Gatwood, J., Zhu, Y., Steffens, A., Gallagher, S., DuCharme, M., Moore, K., & Stempniewicz, N. (2025). Herpes Zoster Risk Among US Cancer Patients Following Initiation of Immunosuppressive Therapy. Cancer Management and Research, Volume 17, 2377–2391. https://doi.org/10.2147/cmar.s534019









