Viêm màng não do ký sinh trùng: Triệu chứng, điều trị và phòng ngừa

Viêm màng não do ký sinh trùng là bệnh lý nguy hiểm, có khả năng đe dọa tính mạng người bệnh đồng thời để lại những di chứng nặng nề về thần kinh hay thậm chí ảnh hưởng đến các cơ quan khác, cần được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và chăm sóc đúng cách để cải thiện tiên lượng và rút ngắn thời gian phục hồi.

BS Phạm Đình Đông - Quản lý Y khoa vùng 7 miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), viêm màng não là mối quan tâm toàn cầu về sức khỏe cộng đồng với tỷ lệ tử vong cao. Theo một nghiên cứu cho thấy, bệnh này đã tăng từ 2,5 triệu ca vào năm 1990 lên 2,82 triệu ca vào năm 2016. Dù có sự gia tăng, song tổng số ca tử vong đã giảm 21%. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong vẫn ở mức cao khi so với các bệnh khác có thể phòng ngừa bằng vắc xin như sởi và uốn ván. Trong số các nguyên nhân gây bệnh, ký sinh trùng là nguyên nhân ít phổ biến nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro biến chứng và tử vong. (1)

viêm màng não do ký sinh trùng

Viêm màng não do ký sinh trùng là gì?

Viêm màng não do ký sinh trùng là bệnh nhiễm trùng màng não do các loại ký sinh trùng như giun sán, giun đũa chó, mèo, amip... gây ra. Màng não là lớp màng bảo vệ, che phủ quanh não và tủy sống. Khi bị viêm, lớp màng này sẽ phù nề. Trong trường hợp không được phát hiện và cấp cứu kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tử vong.

Có nhiều dạng viêm màng não khác nhau, xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Thường gặp nhất là do vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng. Viêm màng não do ký sinh trùng là bệnh nghiêm trọng, dù ít phổ biến bằng viêm màng não do vi khuẩn hay virus nhưng vẫn được ghi nhận với mức độ đáng lo ngại, đặc biệt là những khu vực có điều kiện vệ sinh kém, vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo.

Viêm màng não do ký sinh trùng thường gặp ở vùng Đông Nam Á, nơi có khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của nhiều loại ký sinh trùng.

Mức độ nguy hiểm của bệnh không chỉ nằm ở khả năng tử vong, mà còn có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nếu không được điều trị kịp thời.

cảm giác đau đầu dữ dội

Các loại ký sinh trùng gây viêm màng não

Ký sinh trùng là một sinh vật sống ký sinh trên vật chủ khác, ăn vật chủ để tồn tại. Một số loại ký sinh trùng được tìm thấy trong đất, nước, phân, một số loài động vật hoặc thực phẩm sống, chưa chín. Ký sinh trùng là những sinh vật cực kỳ nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được. Bản thân ký sinh trùng không phải là bệnh, nhưng là nguyên nhân gây nên các bệnh như viêm màng não.

1. Angiostrongylus cantonensis (giun mạch)

Angiostrongylus cantonensis hay còn được gọi là giun mạch là nguyên nhân gây viêm màng não do ký sinh trùng thường gặp nhất. Ổ chức của ấu trùng giun mạch là loài chuột. Bởi đặc tính ký sinh trên động mạch phổi của chuột nên giun mạch còn được gọi là "giun ở phổi chuột". Giun mạch ký sinh và để trứng ở các động mạch phổi chuột và nở thành các ấu trùng giai đoạn 1. Các ấu trùng giun mạch xuyên qua thành động mạch và đi vào phổi, di cư lên phế quản rồi xuống ruột. Cuối cùng là thải ra ngoài môi trường theo phân.

Con người nhiễm ấu trùng giun mạch khi ăn phải ốc sên mang ấu trùng hay ăn rau sống có chất nhờn do ốc sên hay một số loài nhuyễn thể khác tiết ra. Sau khi xâm nhập cơ thể, ấu trùng giun mạch xuyên thành ruột và di cư lên não và tủy sống, gây viêm màng não, lên mắt gây giảm thị lực hay thậm chí là mù một bên. Viêm màng não bạch cầu ái toan thường thấy sau 2 tuần, với tỷ lệ tử vong là 2 - 3%.

Lưu ý, trên bề mặt não và tủy sống của người, ký sinh trùng trở thành ấu trùng giai đoạn cuối, không thể phát triển thành giun trưởng thành như khi ký sinh ở chuột. Ngoài ra, có một loại giun mạch khác là A. costaricensis cư trú trong động mạch nhỏ mạc treo ruột ở vùng hồi manh tràng, gây viêm ruột vùng hồi manh tràng cho chuột, người là những ký chủ cuối cùng.

2. Gnathostoma spinigerum (giun đầu gai)

Gnathostoma spinigerum hay giun đầu gai thường được tìm thấy ở các quốc gia như châu Á, Nam và Trung Mỹ, và châu Phi. Giun đầu gai là loại giun ký sinh ở nước ngọt, cá sống, bò sát và một số loài chim. Giun đầu gai sinh sản trên động vật và thải qua phân, phát triển thành phôi bào trong môi trường nước, phát triển trong các ký chủ trung gian như cá, ếch, rắn nước. Con người nhiễm giun đầu gai khi ăn các thức ăn chế biến từ cá, gia cầm mang ấu trùng chưa được nấu chín hay uống nước có ấu trùng không được đun sôi.

Tuy nhiên, ký sinh trùng giun đầu gai không có khả năng sinh sản trong cơ thể người, mà thay vào đó gây bệnh nhắm vào máu, gây sưng dưới da. Đây là dạng ký sinh trùng ít phổ biến gây bệnh viêm màng não, vì hiếm khi nhắm vào não và tủy sống.

giun đầu gai
Gnathostoma spinigerum hay giun đầu gai thường được tìm thấy ở các quốc gia như châu Á, Nam và Trung Mỹ, và châu Phi

3. Taenia solium (sán dây lợn)

Taenia solium hay sán dây lợn là loại sán dây phổ biến tại những nơi có thói quen ăn thịt heo sống, chưa được nấu chín hay ăn những loại rau sống chưa rửa kỹ. Ngoài ra, sán dây lợn còn phát triển do việc quản lý nuôi giết mổ heo không đảm bảo vệ sinh. Sán dây lợn phổ biến tại một số quốc gia như châu Mỹ Latinh, châu Á, châu Phi - những nơi có tập quán ăn uống và điều kiện vệ sinh môi trường kém. Tại nước ta, sán dây lợn thường gặp và xuất hiện nhiều ở các khu vực miền núi.

Khi ăn nem chua hay thịt lợn nấu tái, ấu trùng sán dây có thể phát triển và trưởng thành trong ruột non. Từ ruột non, các ấu trùng sán sẽ xâm nhập vào máu và di cư đến khắp nơi gây những nốt cứng ở bắp thịt, mô dưới da, não và mắt. Trong trường hợp này, con người là ký chủ trung gian.

Sán dây lợn có thể gây tổn thương não với động kinh, giảm thị lực hay mất hoàn toàn thị lực.

4. Baylisascaris procyonis (giun đũa gấu mèo)

Baylisascaris procyonis là một loại ký sinh trùng được tìm thấy ở gấu mèo, hay còn được biết đến với tên gọi là giun đũa gấu mèo. Baylisascaris procyonis là nguyên nhân của một dàng viêm màng não ký sinh trùng nghiêm trọng và hiếm gặp. Tương tự các loài ký sinh trùng khác, Baylisascaris procyonis được truyền qua phân gấu mèo dưới dàng giun.

Sau đó, giun đũa gấu mèo được truyền qua một số loài động vật khác - những vật chủ tình cờ của Baylisascaris procyonis. Con người bị nhiễm giun có trong đất, nước, hoặc đồ vật, thức ăn. Trứng giun sau đó nở thành ấu trùng trong ruột, di chuyển khắp cơ thể và gây tổn thương các cơ quan. Baylisascaris procyonis có thể gây nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, khiến mắt tổn thương hoặc hội chứng ấu trùng di chuyển ở nội tạng. Bệnh do Baylisascaris procyonis có khả năng gây tử vong.

5. Amip

Amip (hay Naegleria fowleri) là nguyên nhân phổ biến gây viêm màng não do ký sinh trùng, gây viêm màng não do amip nguyên phát và có khả năng gây tử vong ở hầu hết các trường hợp.

Ký sinh trùng amip xâm nhập cơ thể người thông qua đường mũi, trong khi bơi ở sông ngòi, ao, hồ hay thậm chí tại các hồ bơi khử trùng clo không đủ. Từ mũi, amip sẽ đi vào não và phá hủy mô não. Bệnh không lây truyền qua đường ăn uống, không lây trực tiếp từ người sang người.

ký sinh trùng amip
Amip là nguyên nhân phổ biến gây viêm màng não do ký sinh trùng

6. Giun đũa ở chó mèo

Con người nhiễm giun đũa chó, mèo khi ăn phải thức ăn có trứng giun do ruồi mang đến. Hoặc cũng có thể người nhiễm trứng giun từ bàn tay do tiếp xúc với đất nhưng không rửa tay trước khi ăn. Sau khi xâm nhập vào cơ thể người, ấu trùng của giun đũa chó, mèo di cư đến nhiều nơi khác nhau, đến nơi nào sẽ gây triệu chứng của nơi đó như ngứa da, mù mắt, sưng gan, tràn dịch màng tim, màng phổi và viêm màng não.

Giun đũa chó, mèo thường đẻ trứng, trứng theo phân ra môi trường và sau 1 - 2 tuần sẽ hóa phôi. Trong giai đoạn này vẫn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng. Sau đó, các ấu trùng giun xuyên qua thành ruột, theo máu đến các cơ quan khác như gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, là nơi các ấu trùng sống sót sau nhiều tháng cho đến khi bị phản ứng viêm của cơ thể phá hủy hoặc khiến chúng ngưng phát triển.

Mức độ tổn thương của cơ thể tùy vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan chúng xâm lấn, như gan, phổi, hệ thần kinh trung ương và mắt.

7. Một số loại ký sinh trùng ít gặp khác

Ngoài các loại ký sinh trùng gây viêm màng não đã kể trên, một số loại ký sinh trùng khác có thể gây nhưng hiếm gặp hơn, gồm:

  • Toxoplasma gondii: là loại ký sinh trùng toxoplasmosis có khả năng dẫn đến bệnh, đặc biệt là ở những đối tượng có hệ miễn dịch yếu như bệnh nhân HIV/AIDS.
  • Echinococcus granulosus: chủ yếu gây u hydatid và chỉ gây viêm màng não trong một số trường hợp.
  • Dirofilaria immitis: thường gây bệnh ở chó, nhưng trong một số trường hợp có thể gây bệnh ở người.

Tuy các loại ký sinh trùng trên không phổ biến, nhưng vẫn góp phần vào sự phát triển của bệnh trong những điều kiện nhất định. Việc nhận biết và điều trị bệnh sớm rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Đường lây nhiễm ký sinh trùng gây viêm màng não ở người

Hiểu được đường lây ký sinh trùng là một trong các yếu tố quan trọng trong phòng ngừa căn bệnh này. Ký sinh trùng có khả năng xâm nhập cơ thể thông qua nhiều con đường khác nhau, với mỗi loại ký sinh trùng lại có một phương thức lây lan riêng tạo nên một “bức tranh” phức tạp về dịch tễ học của viêm màng não.

Trong đó, ăn thực phẩm và sử dụng nước uống nhiễm ký sinh trùng là con đường lây nhiễm chủ yếu. Điển hình như ký sinh trùng Toxoplasma gondii thường có trong thịt sống hoặc chưa nấu chín kỹ, đặc biệt là thịt heo. Người ăn vào có thể phát triển thành nhiều biến chứng, bao gồm cả viêm màng não. Tương tự, ký sinh trùng amip có khả năng xâm nhập cơ thể khi bơi ở sông, ngòi, ao hồ nhiễm khuẩn.

ký sinh trùng amip trong nguồn nước
Ký sinh trùng amip trong nguồn nước nhiễm khuẩn có khả năng xâm nhập cơ thể người khi bơi ở sông, ngòi, ao hồ nhiễm khuẩn.

Tương tự Angiostrongylus cantonensis hay giun mạch xâm nhập cơ thể thông qua ăn các loại hải sản sống hay chế biến chưa đúng cách. Giun đầu gai đi vào cơ thể khi ăn các thức ăn chế biến từ cá, gia cầm mang ấu trùng chưa nấu chín, hay uống nước có ấu trùng khi chưa đun sôi.

Qua đó, có thể thấy việc phòng ngừa lây nhiễm ký sinh trùng gây viêm màng não tập trung chủ yếu vào nâng cao ý thức vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường. Tránh ăn đồ sống, uống nước chưa đun sôi cũng như duy trì vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

Ai có nguy cơ cao mắc bệnh viêm màng não do nhiễm ký sinh trùng?

Bất cứ ai cũng có nguy cơ mắc viêm màng não do nhiễm ký sinh trùng. Tuy nhiên, ở một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao hơn, đáng chú ý như người có miễn dịch yếu thường xuyên tiếp xúc với môi trường có ký sinh trùng.

Đầu tiên phải kể đến là người có miễn dịch kém như bệnh nhân ung thư hay đang sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch, bệnh nhân HIV/AIDS... dễ bị tấn công bởi ký sinh trùng. Hệ miễn dịch của những đối tượng này không đủ mạnh để bảo vệ cơ thể trước sự xâm nhập của ký sinh trùng, tăng nguy cơ phát triển các bệnh lý nghiêm trọng, gồm viêm màng não.

Đối tượng nguy cơ cao mắc bệnh tiếp theo phải đến những người sống ở những khu vực lưu hành viêm màng não do ký sinh trùng. Tại những nơi có khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng thường có nhiều ca bệnh hơn. Ngoài ra, người sống ở khu vực gần các nguồn nước tự nhiên như sông ngòi, suối, ao hồ cũng có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là khi bơi hoặc tiếp xúc nhiều với nước.

hoa mắt chóng mặt

Người chăm sóc vật nuôi như chó, mèo, thú hoang dễ nhiễm ký sinh trùng từ phân động vật. Cuối cùng là người có thói quen ăn thực phẩm sống, không được nấu chín cũng phải đối mặt với nguy cơ các ấu trùng giun xâm nhập vào cơ thể qua việc ăn uống.

Triệu chứng viêm màng não do ký sinh trùng

Một số triệu chứng viêm màng não do ký sinh trùng thường gặp bao gồm:

  • Sốt cao, đau đầu dữ dội. Theo nghiên cứu, 90% người bệnh thường đau nhiều vùng trán, chẩm, hai bên thái dương, đau đáp ứng kém với thuốc giảm đau và có khuynh hướng đau nhiều về đêm
  • Buồn nôn và nôn
  • Dị cảm tay chân
  • Đau mỏi cổ gáy, đôi khi cứng cổ do màng bao quanh não và tủy sống bị kích thích và viêm
  • Nếu nhiễm giun đầu gai, triệu chứng trên da là nổi mẩn do ấu trùng di chuyển
  • Rối loạn ý thức và hành vi do não bị các ký sinh trùng làm tổn thương nhanh chóng, gây ra các vấn đề như lú lẫn, mất phương hướng, thay đổi hành vi, co giật hoặc thậm chí hôn mê trong một số trường hợp.

Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể gặp một số triệu chứng khác như nhìn đôi do liệt dây thần kinh vận nhãn, giảm thị lực, yếu tay chân, rối loạn nhịp thở... Một số trường hợp nặng, người bệnh hôn mê và tử vong.

Chẩn đoán viêm não màng não do ký sinh trùng

Để chẩn đoán viêm màng não do ký sinh trùng, bác sĩ sẽ dựa trên các triệu chứng lâm sàng, vùng dịch tễ của bệnh, tiền sử tiếp xúc của đối tượng nguy cơ và các yếu tố nguy cơ, cùng với đó là xét nghiệm dịch não tủy. Các bác sĩ sẽ hỏi chi tiết về lịch sử di chuyển đến vùng lưu hành bệnh, tình trạng tiếp xúc nguồn nước ngọt bẩn (liên quan đến Naegleria fowleri), ăn uống thực phẩm sống hoặc tái chín (liên quan Angiostrongylus cantonensis) hoặc các bệnh lý nền gây suy giảm miễn dịch (liên quan Toxoplasma gondii).

Sau đó, các bác sĩ sẽ tiếp tục chỉ định các xét nghiệm chẩn đoán chuyên sâu để xác định đúng tác nhân gây bệnh, nhằm đưa ra phác đồ điều trị thích hợp:

1. Xét nghiệm dịch não tủy

Chọc dò dịch não tủy (CSF) là bước quan trọng trong quá trình chẩn đoán viêm não - màng não do ký sinh trùng. Phân tích dịch não tủy giúp xác định các đặc điểm viêm, như tăng số lượng bạch cầu ái toan, cao protein, và giảm glucose. Đặc biệt, tăng bạch cầu ái toan trong dịch não tủy là dấu hiệu đặc trưng, thường xuất hiện ở các trường hợp viêm màng não do Angiostrongylus cantonensis hoặc Gnathostoma spp..

Việc tìm kiếm trực tiếp tác nhân ký sinh trùng trong dịch não tủy qua phương pháp kính hiển vi là phương pháp nhạy nhất, nhưng không phải lúc nào cũng thành công do số lượng ký sinh trùng trong dịch có thể thấp. Để bổ sung, các xét nghiệm PCR (phản ứng chuỗi polymerase) ngày càng được sử dụng rộng rãi, giúp phát hiện ADN của ký sinh trùng một cách nhanh chóng và chính xác.

2. Xét nghiệm máu

Trong một số trường hợp, như nhiễm Angiostrongylus cantonensis, có thể phát hiện tăng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi. Đồng thời, xét nghiệm huyết thanh học để tìm kháng thể hoặc kháng nguyên của ký sinh trùng giúp củng cố chẩn đoán.

3. Nuôi cấy ký sinh trùng

Phương pháp này hữu ích nhưng thường tốn thời gian và không phải lúc nào cũng thành công, do ký sinh trùng đôi khi khó phát triển trong môi trường nuôi cấy nhân tạo.

4. Chẩn đoán miễn dịch

Xét nghiệm ELISA hoặc test kháng nguyên có thể phát hiện sự hiện diện của ký sinh trùng với độ chính xác cao, đặc biệt trong các trường hợp mắc Toxoplasma gondii.

5. Hình ảnh học

Chẩn đoán hình ảnh qua CT hoặc MRI não góp phần quan trọng trong việc xác định mức độ tổn thương và định hướng việc chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh. Các dấu hiệu phổ biến bao gồm phù não lan tỏa, tổn thương dạng nốt nhỏ hay các ổ viêm khu trú kèm hoại tử. Đối với Naegleria fowleri, hình ảnh học có thể cho thấy viêm lan tỏa ở mô não, trong khi nhiễm Toxoplasma gondii ở người suy giảm miễn dịch có thể xuất hiện các khối áp xe đặc trưng.

Điều trị viêm màng não do ký sinh trùng

Mục tiêu chính trong điều trị bao gồm:

  • Tiêu diệt ký sinh trùng: Loại bỏ tác nhân gây bệnh khỏi cơ thể để ngăn chặn tổn thương tiếp diễn.
  • Kiểm soát viêm nhiễm: Giảm thiểu phản ứng viêm quá mức trong màng não và các cấu trúc thần kinh.
  • Ngăn ngừa và kiểm soát biến chứng: Bao gồm phù não, tăng áp lực nội sọ, động kinh và khó thở cấp.

Đối với nguyên nhân do Naegleria fowleri (amip ăn não), phương pháp điều trị chủ yếu là sử dụng thuốc miltefosine, một loại thuốc kháng amip mạnh, được đánh giá là công cụ điều trị quan trọng nhất khi được sử dụng cùng các biện pháp hỗ trợ. Amphotericin B cũng là một thuốc kháng nấm có khả năng tiêu diệt amip, được dùng bằng đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm trực tiếp vào não qua hệ thống dịch não tủy. Trong một số trường hợp, bác sĩ cũng có thể kết hợp với các thuốc kháng viêm như dexamethasone để kiểm soát phù não và tình trạng viêm nặng.

Đối với tình trạng do Angiostrongylus cantonensis (giun mạch phổi), bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc kháng ký sinh trùng như albendazole hoặc thiabendazole để tiêu diệt giun. Đồng thời, bác sĩ có thể kết hợp với corticosteroid như prednisone để kiểm soát phản ứng viêm và giảm phù não – vấn đề thường gặp do ấu trùng giun gây tổn thương mô não.

Đối với viêm màng não do Toxoplasma gondii, dạng này phổ biến ở người suy giảm miễn dịch (như bệnh nhân HIV/AIDS) do tác nhân Toxoplasma gondii tấn công hệ thần kinh. Phương pháp điều trị thường được bác sĩ khuyến cáo bao gồm: Sử dụng Pyrimethamine kết hợp với sulfadiazine hoặc clindamycin – đây là các loại thuốc hoạt động mạnh để tiêu diệt ký sinh trùng này. Trong đa số các trường hợp, bác sĩ thường dùng thêm acid folinic để bảo vệ tế bào máu khỏi tác dụng phụ của thuốc.

Đối với các ký sinh trùng khác, thuốc chống giun như ivermectin hoặc albendazole, cùng với corticosteroid hỗ trợ được các bác sĩ chỉ định trong phác đồ điều trị bệnh viêm màng não do ký sinh trùng.

Bên cạnh điều trị đặc hiệu, việc kiểm soát triệu chứng và biến chứng là bước không thể thiếu trong quá trình điều trị:

  • Phù não và tăng áp lực nội sọ: Đây là biến chứng nguy hiểm nhất của viêm màng não. Các phương pháp như sử dụng mannitol để giảm áp lực nội sọ, kết hợp với đặt ống dẫn lưu dịch não tủy, giúp kiểm soát tình trạng phù não.
  • Co giật, động kinh: Được điều trị bằng thuốc chống co giật như phenytoin hoặc diazepam.
  • Rối loạn hô hấp hoặc triệu chứng toàn thân khác: Điều trị tích cực như đặt nội khí quản, thở máy và hỗ trợ tuần hoàn có thể cần thiết.

Phòng ngừa bệnh viêm màng não ký sinh trùng

Để phòng ngừa hiệu quả viêm màng não do ký sinh trùng, người dân cần thực hiện toàn diện và đồng bộ các biện pháp sau.

  • Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tránh ăn các thực phẩm sống hoặc chưa được nấu chín. Sử dụng nước sạch khi chế biến thức ăn.
  • Vệ sinh cá nhân: Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước và sau chế biến thực phẩm.
  • Vệ sinh môi trường sống: Giữ vệ sinh sạch sẽ nơi làm việc và nơi ở. Giảm thiểu tiếp xúc với động vật hoang dã và thú nuôi, đồng thời quản lý hiệu quả chất thải để hạn chế ô nhiễm.
  • Làm sạch nguồn nước: Một trong những nguy cơ lớn nhất gây viêm màng não do ký sinh trùng là nhiễm phải Naegleria fowleri, thường xuất hiện ở các vùng nước ngọt ấm, ao hồ hoặc bể bơi không được xử lý vệ sinh hợp lý. Amip này xâm nhập qua mũi, lên não và có khả năng gây tử vong nhanh chóng. Vì vậy, phòng tránh bệnh bằng cách:
    • Tránh bơi lội hoặc lặn ở các hồ, sông, suối nước ngọt ấm, đặc biệt vào mùa hè khi nhiệt độ nước cao, tạo điều kiện thuận lợi cho amip sinh sôi.
    • Không để nước xâm nhập vào mũi khi bơi hay tắm; sử dụng kẹp mũi hoặc các thiết bị che chắn phù hợp.
    • Chỉ sử dụng nước được đun sôi hoặc xử lý bằng hóa chất khử khuẩn để rửa mũi hoặc thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân liên quan đến hốc mũi.
    • Bảo đảm vệ sinh và khử trùng bể bơi đúng cách bằng cách sử dụng chlorine hoặc các chất sát khuẩn mạnh để tiêu diệt các tác nhân gây hại.
  • Tránh tiếp xúc trực tiếp với phân mèo, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao. Nếu chăm sóc mèo, cần rửa tay sạch sẽ sau khi dọn vệ sinh.
  • Hạn chế cho mèo ăn thịt sống hoặc thức ăn không đảm bảo vệ sinh ăn.
  • Rửa tay sạch sẽ sau khi làm việc ngoài vườn hoặc tiếp xúc với đất, nơi có thể chứa trứng Toxoplasma từ phân mèo.
  • Nấu chín thịt hoàn toàn (đặc biệt là thịt cừu, thịt lợn), cũng như bất kỳ thực phẩm tiềm ẩn nguy cơ nào khác.
  • Xét nghiệm và theo dõi sức khỏe: Kiểm tra sức khỏe định kỳ ở người có nguy cơ mắc bệnh cao. Theo dõi sức khỏe nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu nghi nhiễm ký sinh trùng.
  • Giáo dục cộng đồng: Tăng cường nhận thức về các tác nhân gây viêm màng não do ký sinh trùng và biện pháp phòng ngừa thông qua truyền thông, đặc biệt ở những khu vực lưu hành bệnh hoặc có nguy cơ cao.

Cách ngăn ngừa viêm màng não do các nguyên nhân khác

Bên cạnh ký sinh trùng, còn nhiều nguyên nhân khác gây viêm màng não có thể kể đến như virus, vi khuẩn, nấm... Trong đó, các nguyên nhân phổ biến gây bệnh có thể kể đến như phế cầu khuẩn, não mô cầu khuẩn, Hib gây ra. Các nguyên nhân này hiện đã có thể phòng ngừa hiệu quả bằng vắc xin, với hiệu quả bảo vệ trên 90%.

1. Vắc xin phế cầu khuẩn

Viêm màng não do phế cầu khuẩn có tỷ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng nặng. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, tác nhân phế cầu khuẩn gây ra hơn 50% trường hợp viêm màng não do vi khuẩn. Tại Hoa Kỳ mỗi năm ghi nhận khoảng 2.000 ca viêm màng não do não mô cầu. Tại Việt Nam phế cầu là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh này.

Bệnh tiến triển nhanh, tỷ lệ tử vong trên 50% nếu không được điều trị kịp thời. Ngoài ra, khoảng 30 - 50% bệnh nhân còn phải đối mặt với di chứng điếc, mù, liệt... Vắc xin phòng viêm màng não do não mô cầu có khả năng phòng bệnh đến 97%, giảm tỷ lệ nhập viện, chi phí chữa bệnh và rút ngắn thời gian điều trị.

Tên vắc xin Phòng bệnh Đối tượng Đăng ký tiêm
Synflorix (Bỉ) Viêm màng não và các bệnh phế cầu xâm lấn, không xâm lấn do 10 tuýp vi khuẩn phế cầu Trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và trước sinh nhật lần thứ 6. Đăng ký
Prevenar 13 (Bỉ) Viêm màng não và các bệnh phế cầu xâm lấn, không xâm lấn do 13 tuýp vi khuẩn phế cầu Trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn. Đăng ký
Vaxneuvance (Ireland) Viêm màng não và các bệnh phế cầu xâm lấn, không xâm lấn do 15 tuýp vi khuẩn phế cầu Trẻ từ 6 tuần tuổi đến người lớn Đăng ký
Pneumovax 23 (Mỹ) Viêm màng não và các bệnh phế cầu xâm lấn, không xâm lấn do 23 tuýp vi khuẩn phế cầu Trẻ em từ 2 tuổi trở lên, thanh thiếu niên và người lớn Đăng ký
Prevenar 20 (Bỉ) Viêm màng não và các bệnh phế cầu xâm lấn, không xâm lấn do 20 tuýp vi khuẩn phế cầu Trẻ từ 2 tháng tuổi (sớm nhất từ 6 tuần tuổi) trở lên và người lớn Đăng ký

2. Vắc xin phòng viêm màng não do não mô cầu

Viêm màng não do não mô cầu là bệnh đứng thứ 6 trong số 10 bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao nhất, thường xuất hiện khi giao mùa vào khoảng tháng 6 - 10. Khoảng 15% bệnh nhân viêm màng não do não mô cầu tử vong dù được điều trị tích cực, 20% người bệnh gặp di chứng vĩnh viễn tổn thương thính lực, não bộ.

Não mô cầu khuẩn có 13 chủng, trong đó A, B, C, Y, W là các chủng vi khuẩn phổ biến tại Việt Nam. Hiện nước ta có 3 loại vắc xin phòng cả 5 nhóm não mô cầu khuẩn nguy hiểm, bao gồm:

Tên vắc xin Phòng bệnh Đối tượng Đăng ký tiêm
Bexsero (Ý) Viêm màng não do não mô cầu nhóm B Trẻ em và người lớn từ 2 tháng tuổi đến 50 tuổi (chưa đến sinh nhật 51 tuổi). Đăng ký
VA-Mengoc-BC (Cuba) Viêm màng não do não mô cầu nhóm B, C Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và người lớn đến 45 tuổi. Đăng ký
Menactra (Mỹ) Viêm màng não do não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135 Trẻ từ 9 tháng đến 55 tuổi (trước sinh nhật lần thứ 56) Đăng ký
Nimenrix (Bỉ) Viêm màng não do não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135 Trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn Đăng ký
MenQuadfi (Mỹ) Viêm màng não do não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135 Trẻ từ 2 tháng tuổi (sớm nhất từ 6 tuần tuổi) trở lên và người lớn Đăng ký

3. Vắc xin ngừa viêm màng não do Hib

Tại Việt Nam, Hib chiếm từ 1/3 đến 1/2 số ca nhiễm viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi. Theo thống kê, 5 - 10% trường hợp viêm màng não do Hib tử vong, 15 - 30% di chứng thần kinh vĩnh viễn như tổn thương não, điếc, rối loạn tâm thần, trí tuệ sa sút...

Để phòng bệnh viêm màng não do Hib hiệu quả, trẻ từ 2 tháng tuổi được khuyến cáo tiêm các mũi vắc xin phối hợp như 5 trong 1 hoặc 6 trong 1 có thành phần Hib, hoàn thành trước 2 tuổi. Với vắc xin Hib đơn giá có xuất xứ từ Cu Ba được chỉ định tiêm cho trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi.

Tên vắc xin Phòng bệnh Đối tượng Đăng ký tiêm
Hexaxim (Pháp) Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H.Influenzae týp B Trẻ từ 6 tuần tuổi đến 2 tuổi Đăng ký
Infanrix Hexa (Bỉ) Đăng ký

Ngoài ra, viêm màng não còn là biến chứng xuất phát thì nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như lao, sởi, thủy đậu, cúm… Người dân cần chủ động tìm hiểu và tiêm ngừa đầy đủ, đúng lịch các loại vắc xin quan trọng, khuyến cáo tiêm theo từng độ tuổi để tăng cường miễn dịch, bảo vệ sức khỏe trẻ em và người lớn khỏi sự tấn công của bệnh “tử”.

Để được tư vấn các thông tin xoay quanh vắc xin phòng viêm màng não, đặt mua vắc xin, Quý khách vui lòng liên hệ VNVC theo thông tin sau:

Quý Khách hàng có thể tải VNVC Mobile App dễ dàng bằng 2 link sau:

Viêm màng não do ký sinh trùng tuy ít phổ biến hơn các tác nhân gây bệnh khác như virus và vi khuẩn, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro tử vong và nhiều biến chứng nghiêm trọng khác nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Để phòng ngừa, người dân cần chú ý giữ vệ sinh cá nhân, môi trường sống, vệ sinh an toàn thực phẩm và theo dõi sức khỏe thường xuyên.

Chủ đề: #viêm màng não
02:18 08/11/2025
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. Veazey, K. (2023, June 16). Is meningitis contagious? https://www.medicalnewstoday.com/articles/is-meningitis-contagious

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ