Các bệnh truyền nhiễm nhóm B gồm những gì?

Các bệnh truyền nhiễm nhóm B có khả năng lây lan trong cộng đồng và gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn nhóm A. Nhiều bệnh trong nhóm này như cúm mùa, sởi, ho gà, viêm gan virus, lao hay thương hàn vẫn ghi nhận hàng nghìn ca mắc mỗi năm và có thể gây biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.

BS.CKI Danh Thị Mỹ Hồng, Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC cho biết:Các bệnh truyền nhiễm vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở trẻ em trên toàn cầu. Riêng năm 2021, 34 tác nhân gây bệnh lây nhiễm đã khiến khoảng 1,27 triệu trẻ em tử vong. Trong đó, tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu với gần 609.000 ca tử vong, tiếp theo là nhiễm trùng đường hô hấp dưới (hơn 545.000 ca) và viêm màng não (hơn 112.000 ca). Đáng chú ý, phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân gây tử vong nhiều nhất, cướp đi sinh mạng của khoảng 173.000 trẻ em trong năm”. (1)

các bệnh truyền nhiễm nhóm b

Bệnh truyền nhiễm nhóm B là gì?

Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm của Việt Nam, bệnh truyền nhiễm nhóm B là các bệnh có khả năng lây truyền nhanh, có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng và có nguy cơ bùng phát thành dịch, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn bệnh truyền nhiễm nhóm A. Nhóm bệnh này vẫn có thể gây nhiều biến chứng nặng, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện, điều trị và kiểm soát kịp thời.

Các bệnh truyền nhiễm nhóm B có đặc điểm đa dạng về tác nhân gây bệnh, bao gồm virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm. Bệnh có thể lây qua nhiều con đường như đường hô hấp, tiêu hóa, máu, côn trùng truyền bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, tùy theo từng tác nhân.

Mặc dù phần lớn các bệnh truyền nhiễm nhóm B đã có biện pháp dự phòng và điều trị hiệu quả, nhiều bệnh vẫn ghi nhận số ca mắc cao hằng năm, như sốt xuất huyết, cúm mùa, sởi, ho gà, lao, viêm gan virus hay thương hàn. Vì vậy, việc giám sát dịch tễ, phát hiện sớm ca bệnh, điều trị kịp thời và chủ động tiêm vắc xin đối với các bệnh có vắc xin phòng ngừa vẫn là những giải pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ bùng phát dịch và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

bé gái đang bị sốt
Các bệnh truyền nhiễm nhóm B là bệnh có khả năng lây truyền nhanh, có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng và bùng phát dịch.

⇒Tham khảo: Có mấy nhóm bệnh truyền nhiễm theo danh mục của Bộ Y tế hiện nay?

banner cấp giấy xác nhận tiêm chủng trong bài

Danh sách các bệnh truyền nhiễm nhóm B

Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm của Việt Nam (2), bệnh truyền nhiễm nhóm B bao gồm các bệnh có khả năng lây truyền nhanh, có thể gây dịch và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng. Danh sách gồm:

1. Bệnh bạch hầu

Bạch hầu là bệnh lây truyền do vi khuẩn sinh độc tố gây ra, lây chủ yếu qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc gần. Sau 2 - 5 ngày ủ bệnh, người mắc có thể xuất hiện các triệu chứng như đau họng, sốt, sưng hạch cổ, mệt mỏi và đặc biệt là giả mạc màu xám ở họng, gây khó thở, khó nuốt.

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, độc tố bạch hầu có thể gây viêm cơ tim, tổn thương thần kinh và nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Ở người chưa tiêm vắc xin và không được điều trị đầy đủ, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 30%, đặc biệt cao ở trẻ dưới 5 tuổi.

2. Bệnh COVID-19

COVID-19 là bệnh truyền nhiễm do virus SARS-CoV-2 gây ra, từng bùng phát thành đại dịch toàn cầu từ năm 2020. Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp khi người nhiễm ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc gần.

Triệu chứng thường gặp gồm sốt, ho, mệt mỏi, đau họng, khó thở, mất khứu giác hoặc vị giác. Các triệu chứng có thể xuất hiện sau 1 - 14 ngày kể từ khi tiếp xúc với virus. Phần lớn người bệnh có triệu chứng nhẹ hoặc trung bình, nhưng khoảng 14% diễn tiến nặng và 5% có thể rơi vào tình trạng nguy kịch.

COVID-19 lây chủ yếu qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc tiếp xúc gần. virus cũng có thể lây khi chạm vào bề mặt nhiễm mầm bệnh rồi đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Đáng lưu ý, người nhiễm vẫn có thể lây bệnh ngay cả khi chưa có hoặc không có triệu chứng.

3. Bệnh cúm

Cúm mùa là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do virus cúm gây ra, với khoảng 1 tỷ ca mắc mỗi năm trên toàn cầu, trong đó 3 - 5 triệu ca diễn tiến nặng và 290.000 - 650.000 ca tử vong.

Bệnh lây lan dễ dàng qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc gần. Triệu chứng thường gặp gồm sốt đột ngột, ho, đau họng, đau nhức cơ thể và mệt mỏi.

Phần lớn người mắc cúm sẽ hồi phục sau vài ngày đến dưới 2 tuần. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể gặp biến chứng như viêm xoang, viêm tai giữa, hoặc nghiêm trọng hơn là viêm phổi, viêm cơ tim, viêm não, nhiễm trùng huyết, suy đa cơ quan, thậm chí tử vong. Cúm cũng có thể làm nặng thêm các bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh tim, đái tháo đường và bệnh phổi mạn tính.

4. Bệnh dại

Bệnh dại là bệnh lây truyền do virus dại gây ra, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và gần như 100% tử vong khi đã xuất hiện triệu chứng. Khoảng 99% ca bệnh ở người lây từ chó, trong đó trẻ em 5 - 14 tuổi là nhóm có nguy cơ cao.

Bệnh lây sang người qua vết cắn, vết cào hoặc khi nước bọt của động vật mắc dại tiếp xúc với mắt, miệng hoặc vết thương hở. Tiêm vắc xin phòng dại kịp thời sau phơi nhiễm là biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa bệnh.

bị chó cắn ở tay
Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm nhóm B nguy hiểm do virus dại gây ra, gần như luôn dẫn đến tử vong khi đã khởi phát triệu chứng lâm sàng.

5. Bệnh đậu mùa khỉ (Mpox)

Đậu mùa khỉ (Mpox) là bệnh có khả năng lây nhiễm do virus gây ra, với các triệu chứng điển hình như phát ban, sốt, sưng hạch bạch huyết, đau đầu, đau cơ, đau họng và mệt mỏi. Phần lớn người bệnh hồi phục hoàn toàn, nhưng một số trường hợp có thể diễn tiến nặng.

Bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc gần với người mắc bệnh, bao gồm tiếp xúc da kề da, hôn, quan hệ tình dục hoặc tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp khi ở khoảng cách gần.

6. Bệnh do Haemophilus influenzae

Haemophilus influenzae là vi khuẩn có thể gây nhiều bệnh từ nhẹ đến nặng, thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi và người suy giảm miễn dịch. Bệnh có thể gây viêm tai, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và đặc biệt là viêm màng não khi vi khuẩn xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương.

Các trường hợp nhiễm khuẩn xâm lấn thường diễn tiến nặng, cần nhập viện điều trị và có nguy cơ để lại di chứng hoặc tử vong nếu không được xử trí kịp thời.

7. Bệnh do nhiễm Listeria

Listeriosis là bệnh nhiễm khuẩn do Listeria monocytogenes gây ra, lây chủ yếu qua thực phẩm nhiễm khuẩn. Bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh, người cao tuổi và người suy giảm miễn dịch.

Ngoài các triệu chứng tiêu hóa nhẹ, Listeriosis có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, viêm não, để lại di chứng nặng hoặc tử vong. Ở phụ nữ mang thai, bệnh làm tăng nguy cơ sảy thai, thai chết lưu và sinh non.

8. Bệnh do nhiễm nocardia

Nocardiosis là bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Nocardia gây ra, thường ảnh hưởng đến phổi, não hoặc da, đặc biệt ở người suy giảm miễn dịch. Triệu chứng phụ thuộc vào vị trí nhiễm khuẩn, có thể gồm ho, sốt, đau ngực, ho ra máu, hoặc đau đầu, co giật, tổn thương da.

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây sẹo phổi, áp xe não, tổn thương thần kinh, biến dạng da và các biến chứng nghiêm trọng khác.

9. Bệnh do nhiễm virus Chikungunya

Chikungunya là bệnh lây nhiễm nhiễm do virus Chikungunya gây ra, lây sang người qua muỗi nhiễm bệnh. Sau khi bị muỗi đốt khoảng 2 - 12 ngày, người bệnh thường khởi phát đột ngột với sốt cao, đau khớp dữ dội, kèm đau cơ, đau đầu, mệt mỏi, buồn nôn và phát ban.

Đau khớp có thể kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm ở một số trường hợp. Do triệu chứng tương tự sốt xuất huyết hoặc bệnh do virus Zika, Chikungunya dễ bị chẩn đoán nhầm.

10. Bệnh do phế cầu

Bệnh do phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là nhóm bệnh truyền nhiễm lây qua dịch tiết đường hô hấp như nước bọt và chất nhầy. Vi khuẩn có thể gây nhiều bệnh từ nhẹ đến nặng, bao gồm viêm phổi, viêm tai giữa, viêm xoang, viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết.

Đây là một trong những tác nhân hàng đầu gây bệnh nặng và tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có hệ miễn dịch suy giảm.

bé gái mang mặt nạ thở
Vi khuẩn phế cầu có thể gây ra nhiều bệnh từ nhẹ đến nặng như viêm phổi, viêm màng não, viêm xoang, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết…

11. Bệnh do virus Adeno khác

Adenovirus là tác nhân gây nhiều bệnh, phổ biến nhất là nhiễm trùng đường hô hấp như cảm lạnh, viêm họng, viêm phế quản và viêm phổi. Ngoài ra, virus còn có thể gây viêm kết mạc, viêm dạ dày - ruột, viêm bàng quang và hiếm gặp hơn là các bệnh lý thần kinh.

Nhiều người nhiễm Adenovirus không có triệu chứng, nhưng vẫn có thể mang và phát tán virus, đặc biệt ở người suy giảm miễn dịch.

12. Bệnh do virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

HIV là virus tấn công và làm suy giảm hệ miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và ung thư. Nếu không được điều trị, HIV có thể tiến triển thành AIDS. HIV lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn, đường máu, dùng chung kim tiêm và từ mẹ sang con trong thai kỳ, khi sinh hoặc cho con bú. Xét nghiệm HIV là cách duy nhất để xác định một người có nhiễm HIV hay không.

13. Bệnh do virus Hanta

Virus Hanta là loại virus lây truyền từ động vật sang người, thường lây nhiễm tự nhiên ở loài gặm nhấm và đôi khi lây sang người. Nhiễm virus ở người có thể dẫn đến bệnh nặng và thường gây tử vong, mặc dù mức độ bệnh khác nhau tùy thuộc vào loại virus và vị trí địa lý.

14. Bệnh do virus hợp bào (RSV)

RSV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm tiểu phế quản, viêm phế quản và viêm phổi, đặc biệt ở trẻ nhỏ và người cao tuổi. Mỗi năm, RSV gây khoảng 3,6 triệu ca nhập viện và 100.000 ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu.

15. Bệnh do virus HPV (Human Papilloma Virus) ở người

HPV là nhóm hơn 200 chủng virus, trong đó một số chủng nguy cơ cao có thể gây ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, hậu môn, dương vật và hầu họng. Khoảng 90% trường hợp nhiễm HPV có thể tự khỏi, nhưng nhiễm kéo dài làm tăng nguy cơ ung thư.

16. Bệnh ho gà

Ho gà là bệnh lây nhiễm do vi khuẩn Bordetella pertussis gây ra, lây rất dễ qua đường hô hấp. Bệnh đặc trưng bởi những cơn ho dữ dội kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, đặc biệt nguy hiểm ở trẻ nhỏ do có thể gây ngừng thở và viêm phổi.

17. Bệnh lao

Lao là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra, lây qua không khí khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc khạc nhổ. Mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 10 triệu ca mắc và 1,5 triệu ca tử vong, khiến lao vẫn là một trong những bệnh lây truyền gây tử vong hàng đầu.

người đàn ông bị ho
Bệnh lao lây truyền từ người sang người qua đường không khí khi người mắc lao phổi hoặc lao thanh quản ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc khạc nhổ, phát tán vi khuẩn lao vào môi trường.

18. Bệnh Legionnaire

Bệnh Legionnaires là một dạng viêm phổi nặng do vi khuẩn Legionella gây ra. Triệu chứng thường xuất hiện sau 2 - 10 ngày kể từ khi phơi nhiễm, gồm sốt cao, ho, khó thở, đau đầu, đau cơ và có thể kèm buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy.

19. Bệnh liên cầu lợn ở người

Lỵ trực khuẩn là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do vi khuẩn Shigella gây ra. Triệu chứng điển hình gồm tiêu chảy nhiều lần, đau quặn bụng, sốt và phân có máu hoặc chất nhầy.

20. Bệnh lỵ trực khuẩn

Bệnh lỵ trực trùng, hay còn gọi là lỵ trực khuẩn hoặc xích lỵ, là bệnh kiết lỵ do trực khuẩn lỵ Shigella gây ra nhiễm trùng ruột và trực tràng. Các dấu hiệu chính của nhiễm Shigella là tiêu chảy và phân thường có lẫn máu.

21. Bệnh mắt hột

Mắt hột do vi khuẩn Chlamydia trachomatis gây ra và là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa có thể phòng ngừa được trên thế giới. Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc dùng chung vật dụng cá nhân.

22. Bệnh melioidosis (Whitmore)

Whitmore là bệnh nhiễm khuẩn do Burkholderia pseudomallei gây ra, lây khi tiếp xúc với đất hoặc nước ô nhiễm. Bệnh có thể gây viêm phổi, áp xe nhiều cơ quan, nhiễm khuẩn huyết và có nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị sớm.

23. Bệnh nhiễm leptospira

Leptospirosis là bệnh do xoắn khuẩn Leptospira gây ra, lây qua nước hoặc đất nhiễm nước tiểu động vật. Bệnh thường gây sốt cấp tính và có thể dẫn đến tổn thương gan, thận, phổi hoặc viêm màng não ở trường hợp nặng.

24. Bệnh nhiễm trùng do não mô cầu

Bệnh do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, có thể dẫn đến viêm màng não mủ hoặc nhiễm khuẩn huyết tối cấp. Bệnh diễn tiến rất nhanh, có thể gây tử vong trong 24 - 36 giờ và để lại nhiều di chứng nặng nếu không điều trị kịp thời.

25. Bệnh nhiễm virus Zika

Zika là bệnh do virus Zika gây ra, lây chủ yếu qua muỗi Aedes. Người bệnh thường có triệu chứng nhẹ như sốt, phát ban, đau khớp và viêm kết mạc, nhưng nhiễm bệnh trong thai kỳ có thể gây đầu nhỏ và các dị tật bẩm sinh ở thai nhi.

26. Bệnh quai bị

Quai bị là bệnh truyền nhiễm do virus quai bị gây ra, lây qua đường hô hấp và có thể phòng ngừa bằng vắc xin. Bệnh thường khởi phát với sốt, đau đầu, mệt mỏi, sau đó xuất hiện sưng đau tuyến mang tai ở một hoặc hai bên mặt. Mặc dù đa số người bệnh hồi phục hoàn toàn, quai bị vẫn có thể gây viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm tụy, viêm màng não, viêm não và hiếm gặp hơn là điếc hoặc vô sinh.

bé gái đau quai hàm
Bệnh quai bị lây qua đường hô hấp, gây ra các triệu chứng sốt, đau đầu, mệt mỏi, sưng tuyến mang thai một hoặc hai bên mặt.

27. Bệnh rubella

Rubella là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, lây qua các giọt bắn đường hô hấp. Bệnh thường diễn biến nhẹ ở trẻ em và người lớn, nhưng đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai. Nhiễm rubella trong thai kỳ có thể gây sảy thai, thai chết lưu hoặc hội chứng rubella bẩm sinh, với khoảng 100.000 trẻ mắc hội chứng này mỗi năm trên toàn thế giới.

28. Bệnh sởi

Sởi là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, lây rất nhanh qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nói chuyện. Bệnh thường gây sốt cao, ho, sổ mũi, viêm kết mạc và phát ban toàn thân. Sởi có thể dẫn đến viêm phổi, viêm não và tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Năm 2024, thế giới ghi nhận khoảng 95.000 ca tử vong do sởi.

29. Bệnh sốt rét

Sốt rét là bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây ra, lây truyền qua muỗi Anopheles. Người bệnh thường có triệu chứng sốt, rét run, đau đầu, mệt mỏi và nôn ói. Trường hợp nặng có thể gây thiếu máu, vàng da, hôn mê, suy đa cơ quan và tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

30. Bệnh sốt xuất huyết Dengue

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh do virus Dengue gây ra, lây truyền qua muỗi Aedes. Mỗi năm có khoảng 100 - 400 triệu ca nhiễm trên toàn cầu. Triệu chứng thường gồm sốt cao, đau đầu, đau nhức cơ thể, phát ban và buồn nôn. Một số trường hợp có thể diễn tiến thành sốc, xuất huyết nặng hoặc suy đa cơ quan.

31. Bệnh tả

Tả là bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa do Vibrio cholerae gây ra, lây chủ yếu qua thực phẩm hoặc nguồn nước nhiễm khuẩn. Bệnh gây tiêu chảy dữ dội, nôn nhiều, dẫn đến mất nước nghiêm trọng và có thể tử vong nếu không được bù nước, điều trị kịp thời.

32. Bệnh tay chân miệng

Tay chân miệng là bệnh có thể lây nhiễm do các virus đường ruột, thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh lây qua nước bọt, dịch tiết mũi họng, dịch từ mụn nước, phân của người bệnh hoặc qua bề mặt nhiễm virus. Triệu chứng điển hình gồm sốt, loét miệng và phát ban dạng mụn nước ở tay, chân, mông. Một số trường hợp có thể biến chứng thần kinh, tim mạch nguy hiểm.

33. Bệnh than

Bệnh than là bệnh lây nhiễm do vi khuẩn Bacillus anthracis gây ra, lây từ động vật hoặc sản phẩm động vật nhiễm bệnh. Bệnh có thể gặp ở da, phổi hoặc đường tiêu hóa, trong đó thể phổi là nguy hiểm nhất với nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị sớm.

34. Bệnh thương hàn

Thương hàn là bệnh nhiễm khuẩn do Salmonella Typhi gây ra, lây qua thực phẩm và nước uống nhiễm khuẩn. Bệnh thường khởi phát sau 6 - 30 ngày với các triệu chứng như sốt kéo dài, đau đầu, đau bụng, mệt mỏi, táo bón hoặc tiêu chảy. Nếu không điều trị, bệnh có thể gây thủng ruột, nhiễm khuẩn huyết và nhiều biến chứng nguy hiểm.

35. Bệnh thủy đậu

Thủy đậu là bệnh lây truyền do virus Varicella-zoster (VZV) gây ra, lây rất dễ qua đường hô hấp và tiếp xúc với dịch từ mụn nước. Bệnh đặc trưng bởi sốt và phát ban dạng mụn nước toàn thân. Phần lớn trường hợp diễn tiến nhẹ, nhưng vẫn có nguy cơ viêm phổi, viêm não, bội nhiễm da và các biến chứng nghiêm trọng khác.

vùng da bị nổi mụn nước
Thủy đậu gây ra các triệu chứng sốt, phát ban toàn thân, có thể dẫn đến biến chứng như viêm phổi, viêm não, bội nhiễm da.

36. Bệnh tiêu chảy do virus Rota

Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp ở trẻ nhỏ. Bệnh thường khởi phát sau khoảng 2 ngày kể từ khi nhiễm virus, với các triệu chứng như tiêu chảy nhiều lần, nôn ói, sốt và mất nước. Trường hợp nặng có thể phải nhập viện, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được bù nước kịp thời.

37. Bệnh uốn ván

Uốn ván là bệnh nhiễm khuẩn do Clostridium tetani gây ra, đặc trưng bởi co cứng và co thắt cơ, thường bắt đầu ở vùng hàm rồi lan toàn thân. Bệnh có thể gây khó nuốt, suy hô hấp, gãy xương do co cứng cơ và có tỷ lệ tử vong khoảng 10% nếu không được điều trị kịp thời.

38. Bệnh viêm gan virus A

Viêm gan A là bệnh do virus viêm gan A (HAV) gây ra, lây chủ yếu qua thực phẩm hoặc nước uống nhiễm bẩn. Bệnh thường gây viêm gan cấp tính, đa số hồi phục hoàn toàn nhưng một số trường hợp có thể tiến triển thành suy gan cấp. Năm 2023, thế giới ghi nhận khoảng 35.569 ca tử vong do viêm gan A.

39. Bệnh viêm gan virus B

Viêm gan B là bệnh do virus viêm gan B (HBV) gây ra, lây qua máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Bệnh có thể chuyển sang mạn tính, làm tăng nguy cơ xơ gan, suy gan và ung thư gan nếu không được điều trị và theo dõi phù hợp.

40. Bệnh viêm gan virus C

Viêm gan C là bệnh do virus viêm gan C (HCV) gây ra, lây chủ yếu qua đường máu. Nhiều người không có triệu chứng trong giai đoạn đầu nhưng bệnh có thể tiến triển thành viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan nếu không được phát hiện và điều trị sớm.

41. Bệnh viêm gan virus D

Viêm gan D do virus viêm gan D (HDV) gây ra và chỉ xảy ra ở người đã nhiễm virus viêm gan B. Đồng nhiễm HBV và HDV làm bệnh diễn tiến nhanh hơn, tăng nguy cơ xơ gan, ung thư gan và tử vong.

người bị đau bụng
Viêm gan D chỉ xảy ra ở người nhiễm virus viêm gan B. Khi đồng nhiễm, virus viêm gan D có thể làm bệnh viêm gan B tiến triển nhanh hơn, làm tăng nguy cơ xơ gan, suy gan và ung thư gan.

42. Bệnh viêm gan virus E

Viêm gan E là bệnh do virus viêm gan E (HEV) gây ra, lây chủ yếu qua nguồn nước hoặc thực phẩm nhiễm bẩn. Phần lớn trường hợp tự khỏi sau 2 - 6 tuần, nhưng bệnh có thể gây suy gan cấp, đặc biệt nguy hiểm ở phụ nữ mang thai. Mỗi năm có khoảng 20 triệu ca nhiễm HEV trên toàn cầu.

43. Bệnh viêm kết mạc do virus Adeno

Viêm kết mạc do Adenovirus là bệnh rất dễ lây, chiếm khoảng 75% các trường hợp viêm kết mạc do nhiễm trùng. Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với dịch tiết mắt, gây đỏ mắt, chảy nước mắt, cộm rát và sưng kết mạc.

44. Bệnh viêm não Nhật Bản

Viêm não Nhật Bản là bệnh do virus viêm não Nhật Bản (JEV) gây ra, lây truyền qua muỗi Culex. Đa số người nhiễm không có triệu chứng, nhưng trường hợp nặng có thể bị sốt cao, đau đầu, co giật, rối loạn ý thức, hôn mê và để lại di chứng thần kinh hoặc tử vong.

45. Bệnh viêm não virus

Viêm não do virus là tình trạng viêm nhu mô não do nhiều loại virus gây ra. Bệnh có thể khởi phát với sốt, đau đầu, sau đó tiến triển thành co giật, lú lẫn, rối loạn ý thức, hôn mê và nhiều di chứng thần kinh nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

46. Bệnh viêm phế quản cấp tính do virus Coxsackie

Viêm phế quản cấp do virus Coxsackie là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp gây ho kéo dài, có hoặc không kèm đờm, sốt và mệt mỏi. Bệnh thường tự khỏi sau 1 - 3 tuần, nhưng có thể tiến triển thành viêm phổi hoặc nặng hơn ở người có bệnh tim, bệnh phổi mạn tính.

47. Ngộ độc botulinum

Ngộ độc botulinum là tình trạng nhiễm độc tố của vi khuẩn Clostridium botulinum, thường liên quan đến thực phẩm bảo quản không đúng cách. Bệnh gây sụp mi, yếu cơ, liệt tiến triển, khó nuốt, suy hô hấp và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

phụ nữ nằm ôm bụng
Ngộ độc botulinum có thể gây ra các dấu hiệu như sụp mi, yếu cơ, khó nuốt, suy hô hấp và có thể gây tử vong.

Những quy định pháp luật trong phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nhóm B

Phòng, chống bệnh truyền nhiễm nhóm B là trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ sở y tế và các cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và các văn bản hướng dẫn thi hành.

1. Trách nhiệm của cá nhân

Mỗi người dân có trách nhiệm chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng, bao gồm:

  • Chủ động phòng ngừa lây nhiễm bằng cách thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, tiêm chủng đầy đủ đối với các bệnh đã có vắc xin và thực hiện các khuyến cáo của cơ quan y tế.
  • Tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn của cơ sở y tế, nhân viên y tế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Khai báo kịp thời khi phát hiện bản thân hoặc người khác mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh lây nhiễm.
  • Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin dịch tễ theo yêu cầu của cơ quan chức năng.
  • Hợp tác với cơ sở y tế trong quá trình điều tra dịch tễ, cách ly, điều trị và các hoạt động phòng, chống dịch.
  • Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Trách nhiệm của cơ sở y tế

Các cơ sở y tế có trách nhiệm:

  • Phát hiện, giám sát, báo cáo kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm.
  • Thực hiện khám, điều trị, cách ly y tế theo quy định.
  • Triển khai các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, vệ sinh, khử khuẩn môi trường và xử lý chất thải y tế.
  • Đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế tham gia công tác phòng, chống dịch.
  • Phối hợp với cơ quan quản lý trong công tác giám sát và kiểm soát dịch bệnh.

3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức

Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm:

  • Thực hiện và chấp hành các quy định, chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền về phòng, chống dịch bệnh.
  • Tuyên truyền, phổ biến kiến thức để nâng cao nhận thức của cán bộ, người lao động và cộng đồng.
  • Phối hợp với ngành y tế trong việc triển khai các biện pháp phòng, chống dịch.
  • Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người mắc bệnh truyền nhiễm, người nghi ngờ mắc bệnh và người mang mầm bệnh.

4. Các bệnh truyền nhiễm nhóm B phải cách ly y tế

Theo Thông tư số 17/2019/TT-BYT, một số bệnh truyền nhiễm nhóm B phải áp dụng biện pháp cách ly y tế nhằm hạn chế lây lan trong cộng đồng, gồm: Bạch hầu, ho gà, sởi, rubella, than, viêm màng não do não mô cầu, tay chân miệng, thủy đậu, quai bị.

Biện pháp phòng tránh những bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B

Các bệnh truyền nhiễm nhóm B là những bệnh có khả năng lây lan nhanh và có thể gây tử vong, như sốt xuất huyết, cúm, sởi, thủy đậu, tay chân miệng, viêm gan virus, ho gà, bạch hầu, dại, lao phổi... theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Biện pháp phòng tránh các bệnh truyền nhiễm nhóm B như sau:

  • Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch để tạo miễn dịch phòng bệnh đối với các bệnh có vắc xin như sởi, quai bị, rubella, bạch hầu, ho gà, viêm gan B, thủy đậu, cúm...
  • Giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, che miệng khi ho hoặc hắt hơi.
  • Ăn chín, uống sôi, sử dụng thực phẩm sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm để phòng các bệnh lây qua đường tiêu hóa.
  • Giữ môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng, xử lý rác thải đúng quy định.
  • Diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy, ngủ màn và phòng chống côn trùng đốt nhằm hạn chế nguy cơ mắc sốt xuất huyết và một số bệnh truyền qua vật trung gian.
  • Tránh tiếp xúc gần với người mắc bệnh, đeo khẩu trang khi đến nơi đông người hoặc khi có dịch bùng phát.
  • Quan hệ tình dục an toàn, không dùng chung kim tiêm để phòng các bệnh lây truyền qua đường máu và tình dục như HIV, viêm gan virus.
  • Theo dõi sức khỏe và khám sớm khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh để được chẩn đoán, điều trị kịp thời và hạn chế lây lan cho cộng đồng.
  • Tuân thủ hướng dẫn của cơ quan y tế khi có dịch bệnh xảy ra.
nhân viên y tế tiêm cho bà lão
Tiêm chủng đầy đủ các vắc xin đã có như cúm, sởi, quai bị, rubella, thủy đậu... là biện pháp hiệu quả giúp phòng ngừa nhiều bệnh lây nhiễm nhiễm nguy hiểm.

Mặc dù không thuộc nhóm bệnh lây nhiễm đặc biệt nguy hiểm như nhóm A, các bệnh truyền nhiễm nhóm B vẫn có thể bùng phát thành dịch và gây nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được kiểm soát tốt. Chủ động tiêm vắc xin, thực hiện vệ sinh cá nhân, ăn chín uống sôi, giữ gìn môi trường sống sạch sẽ và tuân thủ các khuyến cáo của cơ quan y tế là những biện pháp hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng.

Chủ đề: #Bệnh truyền nhiễm
20:31 05/08/2026
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. Zhao, X., Liu, Z., Wang, Y., Wang, Y., Zhang, W., Wang, X., Song, D., Zhao, Z., & Liu, X. (2026). Global, regional, and national burden of pathogen-attributable infectious diseases in children by age and sex, 1990–2021: a systematic analysis. Infection. https://doi.org/10.1007/s15010-026-02863-2
  2. Phủ, C. T. T. Đ. T. C. (n.d.). Luật số 03/2007/QH12 của Quốc hội: LUẬT PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM. Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ – http://chinhphu.vn. https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=51257
  3. Thuvienphapluat.Vn. (2026, June 30). Thông tư 17/2019/TT-BYT hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Thong-tu-17-2019-TT-BYT-huong-dan-giam-sat-va-dap-ung-voi-benh-dich-benh-truyen-nhiem-418884.aspx

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ