Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới: Triệu chứng, điều trị, phòng ngừa

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và khá phổ biến, có liên quan đến tình trạng tổn thương các cơ quan hô hấp dưới như phổi và đường dẫn khí. Hội chứng này có thể gây ra nhiều triệu chứng khó chịu và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, nhiễm trùng hô hấp dưới có thể biến chứng suy hô hấp, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh. Vậy triệu chứng nhận biết sớm hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là gì? Cách điều trị và phòng ngừa như thế nào?

Trong bài viết này, chuyên gia đến từ Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan đến hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới, người dân, đặc biệt là các bậc phụ huynh có thể tham khảo qua.

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới

BS Đoàn Thị Khánh Châm - Quản lý Y khoa vùng 2 - miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: “Hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp do sự xâm nhập và tấn công của nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, vi nấm... vào hệ thống hô hấp. Sự đa dạng của các tác nhân gây bệnh khiến cho hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp trở nên phức tạp trong chẩn đoán và điều trị. Nếu không được phát hiện sớm, chẩn đoán kịp thời và điều trị đúng cách, bệnh có thể biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong Bệnh đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em, người già và người có hệ miễn dịch suy yếu.

Để bảo vệ bản thân và gia đình, mỗi người cần chủ động phòng bệnh bằng cách tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch các loại vắc xin quan trọng, thực hiện vệ sinh cá nhân tốt, cùng các biện pháp y tế khoa học khác theo khuyến cáo của bác sĩ.”

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là gì?

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới (Lower Respiratory Tract Infections – LRTI) là các bệnh lý nhiễm trùng ảnh hưởng đến đường hô hấp dưới (các cơ quan hô hấp nằm phía dưới thanh quản). Bất kỳ tình trạng nhiễm trùng nào ảnh hưởng đến phổi và các cơ quan thuộc đường hô hấp dưới cũng được coi là nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Trong đó, hai bệnh lý nhiễm trùng đường hô hấp dưới phổ biến nhất là viêm phổi và viêm phế quản.

Bất cứ tác nhân nào lây qua đường hô hấp cũng đều có thể gây ra các tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Các tác nhân gây này dễ dàng lây truyền từ người sang người khi người lành hít phải những giọt bắn chứa vi khuẩn, virus tản phát ra môi trường do người bệnh ho, hắt hơi. Các giọt bắn chứa virus này cũng có thể bám và tồn tại dai dẳng nhiều ngày trên các bề mặt thông thường như đồ chơi, vật dụng sinh hoạt, tay nắm cửa..., khi người lành vô tình tiếp xúc, sau đó đưa lên mũi hoặc miệng, tình trạng lây nhiễm có thể xảy ra.

Theo một nghiên cứu về gánh nặng toàn cầu của hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới trong 3 thập kỷ qua (giai đoạn 1990 - 2019), cho thấy trung bình mỗi năm có khoảng 488,9 triệu ca mắc và 2,4 triệu ca tử vong do hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Một phân tích có hệ thống khác về nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu (195 quốc gia) vào năm 2015, hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi. (1)

Theo phân tích tổng hợp chi phí quản lý hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính liên quan đến virus hợp bào hô hấp ở trẻ nhỏ, hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới đặt ra gánh nặng kinh tế đáng kể. Trung bình mỗi ca nhiễm trùng đường hô hấp dưới tốn khoảng 3.452 € (khoảng 95 triệu đồng) cho điều trị nội trú và 299 € (khoảng 6,3 triệu đồng) cho chi phí điều trị ngoại trú. Và trên thực tế, nhiều trường hợp có chi phí cao hơn nếu có bất kỳ bệnh tiềm ẩn nào hoặc cần theo dõi, thuốc men hoặc phát sinh chi phí phục hồi tích cực sau điều trị.

Bệnh lý nhiễm trùng ảnh hưởng đến đường hô hấp dưới
Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là các bệnh lý nhiễm trùng ảnh hưởng đến đường hô hấp dưới (ở dưới thanh quản).

Triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Triệu chứng của hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới có thể thay đổi từ nhẹ đến nghiêm trọng, tùy thuộc vào loại bệnh lý, vị trí và mức độ nhiễm trùng, cũng như sức đề kháng của người bệnh. Các triệu chứng thường gặp bao gồm:

  • Sốt: Sốt là một triệu chứng thường gặp, thể hiện phản ứng của cơ thể đối với nhiễm trùng. Sốt có thể đi kèm với ớn lạnh và đổ mồ hôi. Nhiệt độ cơ thể tăng cao do hệ miễn dịch đang hoạt động mạnh mẽ để chống lại vi khuẩn hoặc virus gây bệnh.
  • Ho: Có thể là ho khan hoặc ho có đờm, với màu sắc đờm có thể khác nhau từ trắng, vàng đến xanh, và đôi khi có thể lẫn máu nếu nhiễm trùng nghiêm trọng. Ho là cơ chế bảo vệ của cơ thể, giúp đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài, nhưng đồng thời cũng là triệu chứng gây khó chịu và mệt mỏi cho bệnh nhân.
  • Thở khò khè hoặc khó thở: Đây là các triệu chứng thường gặp khi viêm phổi do nhiễm trùng gây viêm và sưng tấy trong phổi, làm cản trở quá trình trao đổi oxy.. Khó thở có thể biểu hiện dưới dạng thở dốc, thở nhanh hoặc cảm giác ngột ngạt, làm bệnh nhân cảm thấy như không đủ không khí để thở
  • Cảm thấy nặng hoặc đau ở ngực: Đau ngực, đặc biệt là khi ho hoặc hít thở sâu, cũng là triệu chứng thường thấy trong nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Cơn đau có thể xuất hiện do viêm các mô ở phổi hoặc thành ngực, thường khiến bệnh nhân cảm thấy rất khó chịu.
  • Mệt mỏi và chán ăn: Đây là các triệu chứng toàn thân khác. Nhiễm trùng đường hô hấp dưới làm tiêu thụ nhiều năng lượng của cơ thể, do đó, bệnh nhân thường cảm thấy kiệt sức và chán ăn, nguy cơ không cung cấp đủ nước, dẫn đến mất nước, có thể biến chứng nghiêm trọng.
  • Các triệu chứng khác: Nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi, đau họng, đau đầu, chóng mặt, nhịp tim nhanh…

Trong một số trường hợp nghiêm trọng hơn, người bệnh có thể xuất hiện triệu chứng tím tái, đặc biệt ở môi và ngón tay do thiếu oxy nghiêm trọng, cần can thiệp y tế khẩn cấp.

Triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp dưới
Với trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở mức độ nặng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng sốt cao, ho dữ dội, ho có đờm, thậm chí đờm có máu, khó thở, đau tức vùng ngực, tím tái niêm mạc hoặc đầu chi do thiếu oxy cung cấp.

Các bệnh viêm đường hô hấp dưới phổ biến hiện nay

Một số bệnh thuộc hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới thường gặp như:

1. Viêm phế quản cấp

Viêm phế quản cấp (Acute Bronchitis - AB) là tình trạng viêm nhiễm cấp tính tại phế quản, cũng là bệnh về đường hô hấp cực kỳ phổ biến ở trẻ em, người già và những người có hệ miễn dịch yếu. Ngoài các tác nhân virus, vi khuẩn lây qua đường hô hấp, việc tiếp xúc với khói thuốc lá và không khí ô nhiễm cũng có thể làm gia tăng nguy cơ viêm phế quản cấp. (2)

Viêm phế quản gây ra tình trạng ho, thậm chí ho dai dẳng, có thể kèm theo đờm, khó thở, sốt nhẹ, đau đầu và mệt mỏi. Mặc dù thường tự khỏi trong vài tuần, viêm phế quản cấp có thể diễn tiến thành mạn tính nếu tái nhiễm thường xuyên, thậm chí biến chứng viêm phổi nếu không được điều trị sớm và đúng cách.

2. Viêm tiểu phế quản

Viêm tiểu phế quản (Bronchiolitis) là một loại bệnh nhiễm trùng đường hô hấp phổ biến ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở những trẻ dưới 2 tuổi. Theo thống kê, mỗi năm ghi nhận khoảng 150 triệu trường hợp viêm tiểu phế quản mới trên toàn thế giới. Trong số những trẻ này, có 2% đến 3% trường hợp cần phải nhập viện điều trị. Tại Việt Nam, tình trạng viêm tiểu phế quản là bệnh lý đứng đầu danh sách các nguyên nhân khiến trẻ phải nhập viện tại khoa hô hấp, chiếm khoảng 40 – 50% tổng số ca nhập viện.

Ban đầu, triệu chứng của viêm tiểu phế quản có thể giống như cảm lạnh thông thường, bao gồm chảy nước mũi và sốt nhẹ. Tuy nhiên, bệnh có thể tiến triển nhanh chóng, dẫn đến ho kéo dài, thở khò khè và khó thở. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, tình trạng có thể trở nên nghiêm trọng hơn, gây ra các biến chứng nguy hiểm như rối loạn chức năng hô hấp, suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi, xẹp phổi hoặc viêm tai giữa. Do đó, việc nhận diện sớm và điều trị đúng cách là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe của trẻ và ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng.

3. Viêm phổi

Viêm phổi là tình trạng nhu mô phổi bị nhiễm trùng, gây sưng. Triệu chứng của viêm phổi xuất hiện đột ngột và thường gặp ở trẻ nhỏ, người già như: đau ngực khi thở hoặc ho; ho khan, ho có đờm; sốt trên 38 độ, đổ mồ hôi; cơ thể mệt mỏi, ớn lạnh; thở gấp; buồn nôn, nôn mửa... Viêm phổi nếu không được điều trị kịp thời có thể biến chứng nhiễm trùng huyết, suy hô hấp nặng, tràn dịch màng phổi, áp xe phổi, viêm màng ngoài tim... cực kỳ nguy hiểm, gây rối loạn chức năng hô hấp của phổi, trường hợp nặng thậm chí có thể tử vong.

Viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới, là tác nhân gây ra 14% số trẻ dưới 5 tuổi tử vong, trong đó có đến 20 - 45% ca viêm phổi gây ra là do phế cầu khuẩn.

Theo số liệu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), viêm phổi đã giết 2 triệu trẻ em mỗi năm. Ước tính mỗi ngày có khoảng 4.300 trẻ tử vong do bệnh viêm phổi trên toàn thế giới, nghĩa là cứ 20 giây lại có 1 trẻ tử vong do viêm phổi trên thế giới. Vào năm 2017. viêm phổi đã gây ra hơn 808.000 ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, chiếm 15% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi vào năm đó. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc viêm phổi rất cao, hàng năm có khoảng 2,9 triệu trẻ mắc và hơn 4.000 trẻ tử vong do viêm phổi.

4. Bệnh lao phổi

Lao phổi là một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra, là một trong những thách thức lớn về sức khỏe công cộng với tỷ lệ lây nhiễm cao. Các triệu chứng điển hình của bệnh lao bao gồm ho kéo dài, sốt nhẹ, sụt cân và mệt mỏi. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh lao có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng như tràn dịch, tràn khí màng phổi, lao thanh quản, nấm phổi do Aspergillus , rò thành ngực..., đe dọa đến tính mạng.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2019 ước tính có khoảng 10 triệu người mắc bệnh lao và 1,4 triệu người chết vì bệnh lao. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 174.000 người mắc lao mới, 11.000 người tử vong do bệnh lao (2018) và Việt Nam là một trong 30 nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất trên thế giới. (3)

Biến chứng nguy hiểm của nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, nhiễm trùng đường hô hấp dưới có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và thậm chí đe dọa tính mạng. Một số biến chứng nguy hiểm của nhiễm trùng đường hô hấp dưới như:

  • Suy hô hấp cấp: Khi phổi bị viêm, khả năng trao đổi khí trở nên kém hiệu quả, gây suy hô hấp, dẫn đến thiếu oxy trong máu. Điều này có thể làm cho các cơ quan quan trọng như não, tim và thận không nhận đủ lượng oxy cần thiết, gây tổn thương đa cơ quan, cực kỳ nguy hiểm. Suy hô hấp cấp thường yêu cầu can thiệp y tế khẩn cấp, bao gồm thở máy và hỗ trợ hô hấp tích cực nhằm duy trì lượng oxy nuôi cơ thể.
  • Nhiễm trùng huyết: Biến chứng này xảy ra khi nhiễm trùng lan từ phổi vào máu, gây ra phản ứng viêm toàn thân. Nhiễm trùng máu có thể dẫn đến sốc nhiễm trùng, làm tụt huyết áp và tổn thương đa cơ quan, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người bệnh. Việc phát hiện sớm và điều trị tích cực với kháng sinh, thậm chí kháng sinh liều cao và hỗ trợ điều trị tổng quát là cần thiết để cải thiện kết quả lâm sàng của biến chứng nhiễm trùng huyết do hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới gây ra.
  • Viêm màng ngoài tim và viêm màng phổi: Đây là những biến chứng khác có thể xuất hiện khi bị hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới không được can thiệp y tế kịp thời, khiến các tác nhân gây bệnh nhân lên, gây nhiễm trùng lan rộng tới các màng bao quanh tim và phổi. Những tình trạng này gây đau ngực dữ dội và khó thở, đồng thời có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng hơn như tràn dịch màng phổi hoặc tràn dịch màng ngoài tim, cần can thiệp y tế ngay lập tức.
  • Ngoài ra, lao phổi nếu không được điều trị hoặc điều trị không triệt để có thể để lại nhiều di chứng trên phổi như xơ phổi, áp xe phổi, ngừng thở, giãn phế quản, ảnh hưởng lâu dài đến chức năng hô hấp…
Biến chứng của nhiễm trùng đường hô hấp dưới
Các biến chứng của nhiễm trùng đường hô hấp dưới không chỉ làm tăng nguy cơ tử vong mà còn gây ra các di chứng, tổn thương, dị tật hô hấp và các cơ quan khác lâu dài cho người bệnh

Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Nhiễm trùng đường hô hấp là một trong những căn bệnh phổ biến, đặc biệt trong những thời điểm giao mùa như thu đông. Bệnh thường xuất hiện sau các đợt cảm cúm, cảm lạnh và gây ra nhiều phiền toái cho người bệnh. Mặc dù ai cũng có thể mắc phải, nhưng một số nhóm đối tượng lại có nguy cơ cao hơn, bao gồm:

  • Trẻ em: Đây là nhóm đối tượng có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, sức đề kháng với bệnh tật còn yếu. Ở trẻ nhỏ ở giai đoạn sơ sinh, trẻ chưa đủ tuổi để tiếp nhận những liều vắc xin, khi chẳng may tiếp xúc với các mầm bệnh mà trẻ chưa có kháng thể, nguy cơ cao mắc bệnh lần đầu với diễn biến bệnh lý nghiêm trọng, biến chứng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao, thậm chí bị tổn thương hô hấp đến suốt đời nếu may mắn sống sót.
  • Ở nhóm trẻ lớn hơn, trẻ giai đoạn tiền học đường và học đường, trẻ bắt đầu tăng tiếp xúc xã hội với thầy cô và bạn bè, nguy cơ mắc bệnh tăng cao hơn so với giai đoạn trước. Ở giai đoạn này, trẻ cũng thường rơi vào “khoảng trống miễn dịch” do kháng thể từ việc tiêm vắc xin ở giai đoạn trước đã bị suy giảm đáng kể, trẻ bị lãng quên tiêm chủng trong nhiều năm, không được tiêm mới và tiêm nhắc các loại vắc xin quan trọng. Chính vì thế, trẻ em là nhóm đối tượng nguy cơ cao gặp phải các hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới.
  • Người lớn tuổi, đặc biệt là người già trên 65 tuổi: Đây cũng là nhóm đối tượng rất dễ rơi vào “khoảng trống miễn dịch” do chủ quan, lơ là trong việc phòng bệnh, hành trình tiêm chủng vắc xin bị gián đoạn trong nhiều năm, người càng lớn tuổi, “khoảng trống miễn dịch” càng lớn, nguy cơ mắc bệnh càng cao.
    Càng lớn tuổi, các chức năng của cơ thể bị lão hóa, suy giảm chức năng, kể cả hệ miễn dịch, khả năng đề kháng bệnh tật của người lớn tuổi không còn tốt. Chưa kể người lớn tuổi thường mắc các bệnh lý nền mạn tính như COPD, bệnh thận, bệnh phổi, bệnh tim…, nguy cơ đồng nhiễm, bội nhiễm với tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới, khiến bệnh trạng trở nặng, tiên lượng xấu.
  • Người có thói quen hút thuốc lá thường xuyên: Khói thuốc lá gây tổn thương lớp niêm mạc của đường hô hấp, làm mất khả năng tự làm sạch và bảo vệ của phổi, dễ dàng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng. Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh mà còn có thể dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn và kéo dài thời gian phục hồi.
  • Phụ nữ mang thai: Trong thời kỳ mang thai, cơ thể trải qua nhiều thay đổi sinh lý và miễn dịch, có thể làm giảm khả năng phản ứng chống lại nhiễm trùng. Hơn nữa, nhiễm trùng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn có thể gây ra biến chứng cho thai nhi, như sinh non hoặc nhẹ cân
  • Những người mắc các bệnh lý mãn tính như hen suyễn, phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh tiểu đường, tim mạch, các bệnh về gan và thận: Các bệnh lý này làm suy yếu hệ miễn dịch hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến chức năng của phổi và hệ hô hấp, khiến cho khả năng chống lại các tác nhân gây nhiễm trùng trở nên khó khăn hơn.
  • Người có hệ miễn dịch suy giảm do mắc các bệnh ung thư, hoặc vừa trải qua phẫu thuật điều trị, hóa trị liệu cao: Các liệu pháp điều trị ung thư thường làm giảm mạnh số lượng tế bào bạch cầu, khiến cơ thể khó khăn hơn trong việc đối phó với nhiễm trùng, kể cả các bệnh về đường hô hấp dưới.

Nguyên nhân gây ra hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới, bất kỳ tác nhân nào có khả năng lây qua đường hô hấp đều có thể gây ra tình trạng này, kể cả nhiễm trùng đường hô hấp trên. Dưới đây là các nguyên nhân chính dẫn đến hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới:

1. Do vi khuẩn

Các loại vi khuẩn gây ra tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới bao gồm:

  • Chlamydophila pneumoniae (một loại vi khuẩn nội bào gây viêm phổi ở người)
  • Haemophilus influenzae (một loại vi khuẩn gây nhiễm trùng đường hô hấp như viêm phổi, thậm chí gây nhiễm trùng xâm lấn, dẫn đến viêm tai, nhiễm trùng huyết…)
  • Mycoplasma pneumoniae (một vi khuẩn ký sinh nội bào, có thể gây nhiễm trùng đường hô hấp và các hội chứng nhiễm trùng khác)
  • Streptococcus pneumoniae (hay thường được gọi là phế cầu khuẩn, là tác nhân chính gây ra các tình trạng nhiễm trùng xâm lấn ở cả trẻ em và người lớn như viêm phổi, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn huyết…)
  • Legionella pneumophila (một loại trực khuẩn thường gây viêm phổi, đặc biệt nguy hiểm với bệnh Legionnaires - một dạng viêm phổi nặng)
  • Moraxella catarrhalis (song cầu khuẩn gây nhiễm trùng tai và đường hô hấp trên và dưới)

2. Nhiễm trùng đường hô hấp dưới do virus

Các virus cũng là tác nhân gây nhiễm trùng đường hô hấp phổ biến, đặc biệt ở trẻ em và người già. Các loại virus thường gặp bao gồm:

  • Các virus á cúm (Parainfluenza Virus).
  • Virus cúm A và B.
  • Adenovirus, Rhinovirus.
  • Các virus hợp bào hô hấp (respiratory syncytial virus ).

3. Các yếu tố khác (Như môi trường, nấm, suy giảm miễn dịch,..)

Ngoài vi khuẩn và virus, còn có nhiều yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng nhiễm trùng hô hấp dưới, bao gồm:

  • Nấm: Ở những người có hệ miễn dịch suy yếu, nấm có thể gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới.
  • Môi trường: Ô nhiễm không khí, khói thuốc lá, bụi mịn làm tổn thương đường hô hấp, miễn dịch niêm mạc đường hô hấp cũng bị suy giảm chức năng, tạo điều kiện cho vi khuẩn và virus xâm nhập gây nhiễm trùng đường hô hấp.
  • Suy giảm miễn dịch: Người bị suy giảm miễn dịch do bệnh lý hoặc sử dụng thuốc, các liệu pháp điều trị ức chế miễn dịch có khả năng miễn dịch bị suy giảm nghiêm trọng, không còn đủ khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh, dễ bị nhiễm trùng hơn.
  • Các bệnh lý nền: Các bệnh lý nền mạn tính thường gặp ở người lớn tuổi như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tiểu đường… làm tăng nguy cơ mắc hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới do miễn dịch bị các bệnh nền có sẵn ức chế, giúp các tác nhân gây bệnh đường hô hấp ngoài môi trường dễ xâm nhập và tấn công.

Khi nào cần đến bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị

Nhiễm trùng đường hô hấp thường khởi phát với các triệu chứng nhẹ và có thể tự khỏi. Tuy nhiên, có những trường hợp khởi phát đột ngột, biểu hiện nặng, người bệnh cần được đưa đến các cơ sở y tế hoặc bệnh viện gần nhất để được bác sĩ thăm khám khám và điều trị kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm. Dưới đây là một số trường hợp bạn nên đi khám bác sĩ:

  • Triệu chứng nặng hơn và kéo dài: Nếu các triệu chứng như ho, sốt, khó thở kéo dài hơn 1 tuần và không có dấu hiệu cải thiện, bạn nên đi khám.
  • Khó thở nghiêm trọng: Nếu bạn cảm thấy khó thở, thở gấp hoặc cảm giác như không đủ hơi, hãy đến bệnh viện ngay lập tức.
  • Đau ngực: Đau ngực khi ho hoặc thở sâu có thể là dấu hiệu của biến chứng hô hấp nghiêm trọng.
  • Sốt cao, ớn lạnh: Sốt cao kéo dài, ớn lạnh có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng nặng, hệ miễn dịch phản ứng mạnh mẽ hơn trước tình trạng nhiễm trùng gia tăng.
  • Mệt mỏi bất thường: Nếu người bệnh cảm thấy mệt mỏi quá mức, cảm giác kiệt sức, không có năng lượng, hãy đi khám để được chẩn đoán, điều trị và chăm sóc y tế kịp thời.
  • Sưng cổ: Các hạch bạch huyết ở cổ sưng to và đau.
  • Thay đổi màu da: Da trở nên xanh xao hoặc tím tái.
  • Mất nước: Người bệnh bị tiêu chảy, nôn mửa nhiều, không uống đủ nước.
Chức năng hô hấp gặp vấn đề
Nếu cảm thấy chức năng hô hấp gặp vấn đề như khó thở, thở gấp hoặc cảm giác như không đủ hơi nên đến ngay bệnh viện để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Cách chẩn đoán hội chứng viêm đường hô hấp dưới

Để đưa ra chẩn đoán chính xác về hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới, bác sĩ sẽ tiến hành thăm khám kỹ lưỡng. Đầu tiên, bác sĩ sẽ thu thập thông tin từ bệnh nhân như các triệu chứng đang gặp phải, thời gian xuất hiện, bệnh sử cá nhân và các yếu tố nguy cơ liên quan. Tiếp theo, bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng, bao gồm đo nhiệt độ, nghe tim phổi để đánh giá chức năng hô hấp và tìm kiếm các dấu hiệu bất thường.

Trong một số trường hợp, để xác định chính xác nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của bệnh, bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng như:

  • Chụp X-quang: Kỹ thuật này cho phép bác sĩ hình dung rõ ràng cấu trúc của phổi và các mô xung quanh, giúp xác định mức độ nhiễm trùng, sự hiện diện của dịch, khí hoặc những bất thường khác. Những hình ảnh X-quang có thể giúp bác sĩ phát hiện các dấu hiệu của viêm phổi hoặc giãn phế quản, cung cấp thông tin quan trọng cho quá trình chẩn đoán.
  • Xét nghiệm máu và chất nhầy: Xét nghiệm máu có thể cho thấy sự thay đổi trong số lượng bạch cầu, “truy dấu” các phản ứng miễn dịch đối với nhiễm trùng. Các mẫu chất nhầy được sử dụng để nuôi cấy vi khuẩn hoặc xác định sự hiện diện của virus, từ đó xác định loại vi sinh vật gây bệnh. Thông tin này rất quan trọng để bác sĩ quyết định sử dụng kháng sinh hay thuốc kháng virus cụ thể, tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc.
  • Đo thở oxy: Kỹ thuật này đo lường độ bão hòa oxy trong máu, một chỉ số quan trọng cho thấy khả năng trao đổi khí của phổi. Mức độ oxy thấp có thể chỉ ra rằng phổi đang bị tổn thương do nhiễm trùng và đôi khi có thể yêu cầu can thiệp y tế khẩn cấp để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho cơ thể.

Cách trị nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới thường nhẹ và có thể tự khỏi trong khoảng từ 7 - 10 ngày. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp tình trạng nhiễm trùng diễn tiến nặng và gây ra những biến chứng nguy hiểm, đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Do đó, các chuyên gia khuyến cáo người bệnh nên đến cơ sở y tế ngay lập tức để được kiểm tra, theo dõi và điều trị kịp thời. Tùy vào từng bệnh lý và mức độ của bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định phác đồ điều trị khác nhau. Cụ thể như sau:

Điều trị viêm phế quản cấp:

  • Cho người bệnh nghỉ ngơi, thư giãn và luôn giữ ấm cho cơ thể.
  • Bỏ thói quen hút thuốc lá.
  • Bù nước và các chất điện giải cho cơ thể, uống nhiều nước.
  • Bổ sung vitamin và khoáng chất để tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.
  • Sử dụng thuốc điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

Điều trị viêm phổi:

  • Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, chỉ định này sẽ khác nhau tùy theo mức độ các triệu chứng và loại virus, vi khuẩn gây bệnh. Khi nguyên nhân là do vi khuẩn, kháng sinh thường là lựa chọn điều trị phù hợp để ngăn ngừa sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Trường hợp viêm phổi do virus, điều trị chủ yếu tập trung vào việc giảm triệu chứng và hỗ trợ hệ miễn dịch, bởi virus không đáp ứng với kháng sinh.
  • Hỗ trợ thở oxy hoặc sử dụng máy trợ thở khi người bệnh có các dấu hiệu của suy hô hấp cấp như khó thở, tím tái…để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho cơ thể.
  • Bệnh nhân viêm phổi cần được nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước để giúp làm loãng đờm và dễ dàng loại bỏ chúng khỏi đường hô hấp. Việc kiểm soát sốt và đau bằng các thuốc hạ sốt và giảm đau cũng có thể được áp dụng để làm giảm sự khó chịu và giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn.

Điều trị viêm tiểu phế quản:

Một trong những “chìa khóa” của điều trị viêm tiểu phế quản là sử dụng các loại thuốc giãn phế quản và chống viêm. Các loại thuốc giãn phế quản như beta-2 agonist hoặc cholin ức chế có tác dụng giảm co thắt của phế quản, giúp cải thiện lưu thông khí và cải thiện tình trạng khó thở. Các thuốc chống viêm như corticosteroid, kháng histamin hoặc chất ức chế bội phân tế bào, có tác dụng kiểm soát quá trình viêm nhiễm, từ đó giảm các triệu chứng như ho, khạc đờm và sốt.

Tùy vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, bác sĩ có thể kê đơn các loại kháng sinh để điều trị hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới đi kèm.

Để hỗ trợ quá trình hồi phục và giảm nhẹ các triệu chứng khó chịu, người bệnh có thể áp dụng các biện pháp chăm sóc tại nhà như uống nhiều nước, nghỉ ngơi đầy đủ, sử dụng máy tạo độ ẩm và vệ sinh mũi họng. Nếu các triệu chứng không cải thiện hoặc trở nên nghiêm trọng hơn, hãy đến bệnh viện để được khám và điều trị kịp thời.

Điều trị lao phổi:

Cách chữa trị bệnh lao phổi chủ yếu chính là sử dụng thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Các loại thuốc phổ biến được sử dụng bao gồm: Isoniazid (INH), Rifampin (RIF), Ethambutol (EMB) và Pyrazinamit (PZA). Người bệnh có thể cần phải dùng kết hợp nhiều loại thuốc và dùng trong thời gian dài để đảm bảo tất cả vi khuẩn lao trong cơ thể đều bị tiêu diệt. Bên cạnh việc sử dụng thuốc, trong quá trình điều trị bệnh lao, người bệnh ăn thực phẩm giàu dưỡng chất, tránh uống rượu, hút thuốc, dùng chất gây nghiện, nghỉ ngơi nhiều để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch.

Cách chăm sóc bệnh nhân bị hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới thường gây ra nhiều khó chịu cho người bệnh. Việc chăm sóc chu đáo tại nhà sẽ giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục. Dưới đây là một số cách chăm sóc bạn có thể tham khảo:

  • Cho người bệnh nghỉ ngơi nhiều, tránh những việc quá sức khiến cơ thể mệt mỏi.
  • Xông hít tinh dầu bạc hà có nguồn gốc thiên nhiên, lành tính để làm sạch đờm, theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ.
  • Bù nước cho cơ thể, tránh mất nước và giúp đờm trong phổi loãng hơn, người bệnh dễ khạc nhổ.
  • Bỏ thói quen hút thuốc lá.
  • Cho người bệnh uống nước ấm pha mật ong và chanh để giảm triệu chứng khó chịu khi ho.
  • Duy trì không gian sống và sinh hoạt sạch sẽ, thoáng mát, thường xuyên mở cửa sổ để căn phòng được thông thoáng, giúp không khí trong lành hơn.
  • Sử dụng máy tạo độ ẩm để làm ẩm không khí, giúp làm dịu đường hô hấp.
  • Cho người bệnh ăn các loại trái cây, rau xanh chứa nhiều vitamin giúp tăng cường sức đề kháng.
  • Tránh thức ăn cay nóng, kích thích vì có thể làm tình trạng viêm tấy trở nên nghiêm trọng hơn.
Nước chanh pha mật ong
Có thể cho người bệnh uống nước chanh pha mật ong để giảm triệu chứng khó chịu khi ho.

Cách phòng ngừa hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là một bệnh lý phổ biến, đặc biệt trong mùa lạnh. Để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình, việc phòng ngừa là vô cùng quan trọng. Dưới đây là một số biện pháp phòng ngừa hiệu quả:

1. Tiêm chủng

Tiêm phòng vắc xin là cách phòng ngừa hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp hiệu quả, đơn giản và tiết kiệm nhất. Vắc xin giúp cơ thể chủ động tạo ra kháng thể, bảo vệ người tiêm khỏi các loại virus và vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, bao gồm:

  • Kháng thể đơn dòng phòng viêm phổi, viêm tiểu phế quản, viêm phế quản do virus hợp bào hô hấp RSV gây ra:
    • Beyfortus (Nirsevimab) tiêm cho trẻ từ 1 ngày tuổi đến tròn 24 tháng tuổi.
  • Vắc xin phòng lao Ivactuber (Việt Nam)
  • Vắc xin phòng viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết... do phế cầu khuẩn:
    • Synflorix (Bỉ) tiêm cho trẻ từ 2 tháng tuổi (có thể tiêm sớm lúc 6 tuần);
    • Prevenar 13 (Bỉ), Vaxneuvance (Ireland), Prevenar 20 (Bỉ) tiêm cho trẻ từ 2 tháng tuổi (có thể tiêm sớm lúc 6 tuần);
  • Vắc xin phòng viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu khuẩn
    • Bexsero (Ý)
    • Mengoc-BC (Cuba)
    • Menactra (Mỹ)
    • MenQuadfi (Mỹ)
    • Nimenrix (Bỉ)
  • Vắc xin chứa thành phần bạch hầu, ho gà
    • Infanrix Hexa (Bỉ)
    • Hexaxim (Pháp)
    • Pentaxim (Pháp)
    • Tetraxim (Pháp)
    • Adacel (Canada)
    • Boostrix (Bỉ)
    • Td (Việt Nam)
  • Vắc xin phòng thủy đậu
    • Varivax (Mỹ)
    • Varicella (Hàn Quốc)
    • Varilrix (Bỉ)
  • Vắc xin phòng sởi, quai bị, rubella
    • MMR-II (Mỹ)
    • MMR (Ấn Độ)
    • Priorix (Bỉ)
    • ProQuad (Mỹ)

Đồng thời, cần lưu ý luôn theo dõi lịch tiêm chủng của bản thân và gia đình để đảm bảo không bỏ lỡ bất kỳ mũi tiêm nào.

Tiêm vắc xin là biện pháp phòng nhiễm trùng đường hô hấp
Tiêm vắc xin là biện pháp phòng ngừa hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp hiệu quả nhất.

2. Vệ sinh cá nhân và môi trường

Bên cạnh phương pháp chủ động tiêm vắc xin phòng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới và các vắc xin quan trọng khác được khuyến cáo tiêm trong độ tuổi, để phòng ngừa hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới, người dân cần lưu ý vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ. Cụ thể:

  • Rửa tay thường xuyên: Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch, đặc biệt trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và sau khi tiếp xúc với người bệnh hoặc sau khi tiếp xúc với các bề mặt nghi nhiễm khuẩn.
  • Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi: Sử dụng khăn giấy hoặc khuỷu tay áo để che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi.
  • Vệ sinh đồ dùng cá nhân: Lau chùi thường xuyên các vật dụng cá nhân như điện thoại, tay nắm cửa bằng các dung dịch sát khuẩn.
  • Đeo khẩu trang: Đeo khẩu trang ở nơi công cộng, đặc biệt là khi có dịch bệnh.
  • Vệ sinh nhà cửa: Lau chùi nhà cửa thường xuyên, đặc biệt là những bề mặt tiếp xúc nhiều như tay nắm cửa, bàn ăn.
  • Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh đường hô hấp.
Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch
Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch để phòng ngừa các loại virus, vi khuẩn gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Do đó, tất cả trẻ em và người lớn cần chủ động tiêm ngừa vắc xin đầy đủ, đúng lịch theo khuyến cáo của bác sĩ, phòng bệnh từ sớm, đồng thời thực hiện các biện pháp tăng cường đề kháng, giữ gìn vệ sinh nơi ở, vệ sinh cá nhân sạch sẽ và duy trì lối sống khoa học, dinh dưỡng lành mạnh để bảo vệ bản thân và những người xung quanh.

Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới hoặc muốn đặt lịch tiêm vắc xin, quý Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với VNVC thông qua hotline 028.7102.6595 hoặc inbox qua fanpage facebook VNVC - Trung tâm Tiêm chủng Trẻ em & Người lớn hoặc đến ngay các trung tâm tiêm chủng VNVC trên toàn quốc để được nhân viên chăm sóc Khách hàng hướng dẫn chi tiết, được bác sĩ thăm khám sàng lọc, tư vấn sức khỏe và chỉ định tiêm ngừa phù hợp. Tra cứu trung tâm tiêm chủng VNVC gần nhất tại đây.

Tóm lại, hội chứng nhiễm trùng hô hấp dưới là tình trạng các cơ quan hô hấp thuộc đường hô hấp dưới của cơ thể bị nhiễm trùng, gây tổn thương, không chỉ ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của người bệnh mà còn ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân, nguy cơ nhiễm trùng lan rộng đa cơ quan, đe dọa nguy hiểm đến tính mạng của người mắc. Ngay cả khi được điều trị tích cực, bệnh nhân được đưa khỏi vùng nguy hiểm, vẫn tồn tại một tỷ lệ rất cao người bệnh gặp các di chứng hô hấp kéo dài đến suốt đời..

06:20 17/12/2025
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. Troeger, C., Forouzanfar, M., Rao, P. C., Khalil, I., Brown, A., Swartz, S., Fullman, N., Mosser, J., Thompson, R. L., Reiner, R. C., Abajobir, A., Alam, N., Alemayohu, M. A., Amare, A. T., Antonio, C. A., Asayesh, H., Avokpaho, E., Barac, A., Beshir, M. A., . . . Mokdad, A. H. (2017). Estimates of the global, regional, and national morbidity, mortality, and aetiologies of lower respiratory tract infections in 195 countries: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015. The Lancet Infectious Diseases, 17(11), 1133–1161. https://doi.org/10.1016/s1473-3099(17)30396-1
  2. Bhatia, R. (2024, March 6). Bronchiolitis. MSD Manual Professional Edition. https://www.msdmanuals.com/professional/pediatrics/respiratory-disorders-in-young-children/bronchiolitis
  3. Ho Chi Minh City Center for Disease Control (HCDC). (n.d.). Frequently Asked Questions. https://www.hcdc.vn/hoidap/index/chitiet/f8cc16f28d5c0666662d2c36ddc6b6e1

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ