Ai tìm ra vắc xin uốn ván? Câu chuyện lịch sử đầy thú vị

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC

10:50 13/01/2026
Uốn ván là căn bệnh đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, từng tạo nên những hậu quả tàn khốc trước khi có vắc xin phòng ngừa và cách điều trị. Hãy cùng khám phá ai tìm ra vắc xin uốn ván cùng quá trình phát triển vắc xin qua từng giai đoạn.
|
BS Nguyễn Văn Mác Toàn - Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: "Uốn ván, hay “căn bệnh ngày thứ 8” vì triệu chứng thường xuất hiện sau tuần đầu, gây co thắt cơ dữ dội, từng là nỗi sợ trước khi có vắc xin. Độc tố uốn ván đầu tiên ra đời năm 1924, vắc xin phổ biến từ cuối những năm 1940 giúp giảm mạnh tỷ lệ mắc từ hàng trăm ca mỗi năm xuống trung bình 29 ca/năm ở Mỹ, minh chứng rõ rệt hiệu quả phòng ngừa của vắc xin." |

Lịch sử bệnh uốn ván
Uốn ván được gọi là căn bệnh ngày thứ 8, bởi các dấu hiệu bệnh thường xuất hiện sau tuần đầu tiên hoặc ngày thứ 8. Khi ấy, bệnh nhân cảm thấy đau đớn và điển hình là các cơn co thắt cơ dữ dội, nhất là ở hàm. Bệnh có khả năng khiến bệnh nhân ngạt thở, nhịp tim không đều, gãy xương hoặc thậm chí là tử vong.
Theo những tài liệu đã được ghi chép, triệu chứng bệnh uốn ván đã được ghi nhận từ năm 1500 trước Công nguyên (TCN), tại Ai Cập; nhưng được cho là đã xuất hiện từ năm 3000 TCN. Điểm chung của các ghi chép là căn nguyên bệnh xuất phát từ việc nhiễm trùng các vết thương hở. Việc điều trị trong giai đoạn đầu phát hiện bệnh đều không mang lại tác dụng.
Điển hình như việc các bác sĩ người Trung Quốc châm kim lên tai bệnh nhân vào khoảng năm 300 TCN, hay Hippocrates - bác sĩ và nhà triết học người Hy Lạp cổ đại chữa bệnh bằng cách cho bệnh nhân uống rượu mạnh hoặc quấn trong vải tẩm dầu để ra mồ hôi.
Hoặc ý tưởng bao phủ bệnh nhân bằng phân trong thời kỳ Phục hưng. Vào đầu những năm 1900, các tổ chức y tế đã báo cáo đây là căn bệnh không thể điều trị, là nguyên nhân khiến 85% bệnh nhân tử vong. Trong cuộc Nội chiến năm 1865, cứ 500 người đàn ông, sẽ có 1 người tử vong do uốn ván bởi những vết thương gây ra trong cuộc chiến.
Thế kỷ 19 được xem là "cuộc cách mạng" trong nghiên cứu về căn bệnh này, khi vào năm 1884 Arthur Nicolaier - nhà khoa học người Đức gốc Do Thái đã phân lập được độc tố giống strychnine từ vi khuẩn sống tự do, kỵ khí.
Căn nguyên gây ra căn bệnh này được xác định rõ hơn vào năm 1884, khi Antonio Carle và Giorgio Rattone - hai nhà nghiên cứu bệnh học từ Đại học Turin (Ý) đã chứng minh khả năng lây truyền của bệnh uốn ván lần đầu tiên bằng cách tiêm mủ từ người đã tử vong bệnh này vào dây thần kinh tọa của thỏ, tạo ra triệu chứng đặc trưng trên động vật.
Cũng trong năm 1884, bác sĩ người Đức Arthur Nicolaier đã gây bệnh thành công trên chuột bằng cách tiêm cho chúng đất bị nhiễm uốn ván. Năm 1889, nhà vi khuẩn học và bác sĩ người Nhật Bản Kitasato Shibasaburo đã phân lập được vi khuẩn uốn ván từ một bệnh nhân, xác nhận khả năng gây bệnh của vi khuẩn khi tiêm vào động vật, đồng thời chứng minh vi khuẩn chỉ có thể sinh sản trong môi trường không có oxy.
Chính nghiên cứu này đã giúp các nhà khoa học Kitasato Shibasaburo và Emil von Behring, cùng những người khác phát hiện chất chống độc tố uốn ván vào năm 1891. Từ đó đã làm giảm đáng kể số ca tử vong do căn bệnh này. (1)

Ai tìm ra vắc xin uốn ván?
Vắc xin uốn ván được nhà khoa học thuộc Viện Pasteur (Pháp) - P. Descombey phát triển vào năm 1924. Trước đó chính sự kiện ra đời chất chống độc tố uốn ván của các nhà khoa học Kitasato và Emil von Behring vào năm 1891 đã đặt nền tảng cho sự xuất hiện của vắc xin.
Quá trình phát triển vắc xin uốn ván qua các giai đoạn
Sau khi vi khuẩn gây bệnh được phân lập, các công ty dược phẩm bắt đầu phát triển huyết thanh kháng uốn ván. Đến đầu những năm 1900, một số công ty dược phẩm đã sản xuất thành công loại huyết thanh này để sử dụng trong điều trị. Huyết thanh thường được sản xuất ở ngựa, và khi kháng thể phát triển, ngựa được lấy máu để thu thập huyết thanh kháng độc tố nhằm mục đích điều trị.
Trong Thế chiến thứ nhất, binh lính thường được tiêm huyết thanh kháng này để phòng ngừa cũng như điều trị. Các trận chiến trong Thế chiến thứ nhất thường diễn ra trên chiến trường và chiến hào. Binh lính thường bị thương do mảnh đạn, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Bởi nguy cơ lây nhiêm cao, các bác sĩ quân y đã sử dụng huyết thanh kháng uốn ván và thậm chí thử nghiệm trên binh lính với các nồng độ và liều lượng khác nhau với hy vọng vừa điều trị vừa ngăn ngừa bệnh hiệu quả trên chiến trường. Kết quả là, nhiều binh sĩ mắc bệnh và thậm chí gặp phải các phản ứng dị ứng do sử dụng huyết thanh.
Bởi nguy cơ lây nhiễm cao, các bác sĩ quân y đã sử dụng huyết thanh và thậm chí thử nghiệm trên binh lính với các nồng độ, liều lượng khác nhau với hy vọng vừa điều trị vừa ngăn ngừa bệnh hiệu quả trên chiến trường. Kết quả là, nhiều binh sĩ vẫn mắc bệnh và thậm chí gặp phải các phản ứng dị ứng do huyết thanh.
Vắc xin đầu tiên nhắm vào căn bệnh này, giải độc tố uốn ván (TT), được phát triển vào năm 1924 nhưng mãi đến năm 1938 mới được thương mại hóa.

Tác động và ý nghĩa lịch sử của việc phát minh vắc xin uốn ván
Tỷ lệ tử vong do căn bệnh này đã giảm đáng kể từ đầu những năm 1900 đến cuối những năm 1940. Cuối những năm 1940, vắc xin giải độc tố uốn ván đã được đưa vào chương trình tiêm chủng thường quy cho trẻ em và uốn ván đã trở thành căn bệnh phải khai báo trên toàn quốc. Vào thời điểm đó, mỗi năm có khoảng 500 - 600 trường hợp (khoảng 0,4 ca mắc trên 100.000 dân) được báo cáo..
Sau những năm 1940, tỷ lệ mắc uốn ván được báo cáo đã giảm đều đặn. Từ giữa những năm 1970, khoảng 50 - 100 trường hợp (khoảng 0,05 trường hợp/ 100.000 dân) được báo cáo hàng năm tại Hoa Kỳ. Từ năm 2009 - 2018, trung bình mỗi năm có 29 trường hợp (dao động từ 18 - 37 trường hợp). Trong 297 trường hợp được báo cáo trong 10 năm, có 19 ca tử vong, tất cả đều ở người lớn từ 55 tuổi trở lên. Năm 2018, có 23 ca được báo cáo, không có trường hợp tử vong nào.
Trong số trẻ em sinh ra trong giai đoạn 2016 - 2017, 93,3% đã được tiêm ít nhất 3 liều vắc xin DTaP trước 24 tháng tuổi, và 80,6% đã được tiêm ít nhất 4 liều vắc xin DTaP trước 24 tháng tuổi. Tỷ lệ tiêm chủng Tdap ở thanh thiếu niên từ 13 - 17 tuổi đạt 90,2% vào năm 2019. Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin uốn ván ở người lớn thấp hơn, chiếm 63,4% vào năm 2017. (2)
Có thể thấy, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin uốn ván những năm gần đây đang ở mức cao, đặc biệt ở đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên. Đây là yếu tố then chốt, giúp giảm đáng kể số ca mắc và tử vong. Việc tiêm phòng đúng lịch và không quên các mũi tiêm nhắc không chỉ bảo vệ sức khỏe bản thân, mà còn góp phần duy trì tỷ lệ mắc bệnh ở mức thấp.
Tùy theo nhu cầu phòng bệnh, độ tuổi, sẽ có những loại vắc xin có thành phần uốn ván và lịch tiêm phù hợp. Việc duy trì tiêm chủng đầy đủ vẫn là biện pháp hiệu quả nhất phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm, có khả năng gây tử vong nhưng hoàn toànvẫn có thể tránh được này.

Hy vọng bài viết đã mang đến những thông tin chi tiết xoay quanh chủ đề ai tìm ra vắc xin uốn ván, hành trình phát triển vắc xin qua từng giai đoạn cũng như ý nghĩa của sự ra đời loại vắc xin này. Với uốn ván - căn bệnh có thể khiến bệnh nhân đối mặt với nguy cơ tử vong, thì việc duy trì tiêm chủng đầy đủ vẫn là biện pháp phòng bệnh cho bản thân và gia đình hiệu quả nhất.
- History of Tetanus – National Vaccine Information Center (NVIC). (2024, April 5). Www.nvic.org. https://www.nvic.org/disease-vaccine/tetanus/history
- CDC. (2024, September 30). Chapter 21: Tetanus. Centers for Disease Control and Prevention. https://www.cdc.gov/pinkbook/hcp/table-of-contents/chapter-21-tetanus.html







