LUÔN CẬP NHẬT THÔNG TIN MỚI, HỮU ÍCH CHO QUÝ KHÁCH

Cơn ngừng thở ở trẻ sinh non: Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và phòng ngừa

Ngừng thở là hội chứng xảy ra ở gần như 100% trẻ sinh non trước 30 tuần thai và ít phổ biến hơn ở trẻ sinh non lớn. Cơn ngừng thở ở trẻ sinh non luôn là nguy cơ hàng đầu đe dọa tính mạng của trẻ, đồng thời cũng là vấn đề lo lắng của bậc phụ huynh.

Bài viết được sự tư vấn của Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm – Thần Kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM, Cố vấn chuyên môn Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC.

Cơn ngừng thở ở trẻ sinh non là gì?

Cơn ngừng thở ở trẻ sinh non (tên tiếng Anh là Apnea of prematurity) là sự ngừng thở trong 15-20 giây hoặc ngắn hơn, kèm theo nhịp tim giảm hoặc da trẻ có thể chuyển thành nhợt nhạt, tím hoặc xanh. Đây là vấn đề thường gặp ở trẻ non tháng do hệ thần kinh và đường hô hấp của trẻ chưa trưởng thành hoặc do nguyên nhân bệnh lý. Ngừng thở kéo dài gây thiếu oxy nuôi các cơ quan, có thể dẫn đến tổn thương não, ảnh hưởng thần kinh…

Bác sĩ Trương Hữu Khanh cho biết: sau khi ra đời, trẻ sơ sinh thường phải thở liên tục mới đủ oxy. Đối với trẻ sinh non, một phần hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) có nhiệm vụ kiểm soát chu kỳ hô hấp vẫn chưa được hoàn thiện đủ để đáp ứng nhu cầu thở liên tục của trẻ. Điều này làm cho trẻ thở nhiều, dồn dập sau nhiều đợt thở không sâu hoặc ngừng thở hẳn kéo dài trên 20 giây. Trong y khoa, đây được gọi là chứng ngưng thở ở trẻ sinh non. Trong khoảng thời gian đó, nhịp tim của trẻ cũng sẽ chậm lại, còn gọi là nhịp chậm xoang. Ngoài ra, đường thở ở trẻ sinh non nhỏ và hoạt động yếu nên dễ bị tắc nghẽn, khiến trẻ khó thở hơn. Cơn ngừng thở ở trẻ sinh non cũng có thể diễn tiến nặng hơn nếu trẻ mắc thêm tình trạng nhiễm trùng, các bệnh lý về tim hoặc phổi, các vấn đề về dinh dưỡng như trẻ không bú đủ hoặc thiếu máu.

Hiện tượng ngưng thở thường khởi phát vào ngày đầu tiên sau khi trẻ ra đời với tần suất 1-2 đợt/ngày hoặc có thể nhiều hơn. Trẻ càng nhẹ cân và thiếu tháng thì càng nhiều nguy cơ bị chứng ngưng thở, tím tái. Khi não của trẻ phát triển hoàn chỉnh, hiện tượng này sẽ tự biến mất do trung tâm hô hấp của não bộ đã trưởng thành, thường vào khoảng 40 tuần tuổi thai.

Nguyên nhân gây cơn ngừng thở ở trẻ sinh non

Có hai nguyên nhân chính gây ra tình trạng ngưng thở ở trẻ sinh non:

  1. Trẻ “quên” thở, nguyên nhân do hệ thần kinh chưa trưởng thành, đây được gọi là chứng ngưng thở trung ương. Hệ thống điều hành hô hấp nằm ở mặt trước thân não chưa được phát triển hoàn thiện ở trẻ sinh non. Bên cạnh đó, các cơ hô hấp kém phát triển dẫn đến hoạt động hô hấp của trẻ khó khăn, hay bị ngừng thở.
  2. Trẻ cố gắng thở, nhưng đường thở bị xẹp, không khí không thể chảy vào và ra khỏi phổi, được gọi là chứng ngưng thở do tắc nghẽn.

Đồng thời, trẻ sinh non thường bị ngưng thở “hỗn hợp”, là sự kết hợp của ngưng thở trung ương và tắc nghẽn. Trẻ có nguy cơ ngừng thở cần được kết nối với màn hình ghi lại nhịp tim, nhịp thở và nồng độ oxy trong máu.

Triệu chứng của cơn ngừng thở trẻ sinh non

Ngừng thở thường do sự phát triển chưa hoàn chỉnh của khu vực điều khiển sự hô hấp trong não. Phụ huynh có thể theo dõi những dấu hiệu cơn ngừng thở dưới đây để giúp trẻ sinh non vượt qua những năm tháng đầu đời thật khỏe mạnh:

  • Trẻ ngừng các cử động thở, lồng ngực trẻ không nhấp nhô.
  • Trẻ vẫn có cử động thở nhưng không có dòng khí lưu thông.
  • Thở chậm hoặc ngừng thở trong 15-20 giây.
  • Nhịp tim dưới 80 lần/ 1 phút khi trẻ thở chậm hoặc có cơn ngừng thở.
  • Cơn ngưng thở có thể xảy ra nhiều lần trong ngày.
  • Da trẻ trở nên xanh, thậm chí là tím tái và rơi vào tình trạng lơ mơ kèm hơi thở nặng.

Một số tiêu chuẩn (thay đổi giữa các trung tâm khác nhau) thường được sử dụng để xác định cơn ngưng thở bệnh lý bao gồm:

  • Ngưng thở kéo dài ≥ 15 giây hoặc 20 giây
  • Giảm độ bão hòa oxy máu (SpO2) ≤ 80% hoặc 85%
  • Giảm nhịp tim ≤ 70 hoặc 80 lần/phút

Đồng thời, các Bố Mẹ cần lưu ý không nên nhầm lẫn cơn ngừng thở với thở ngắt quãng, đây cũng là hiện tượng thường thấy ở trẻ sinh non. Thở ngắt quãng là việc ngưng thở chỉ vài giây và sau đó là một vài hơi thở nông và nhanh. Thở ngắt quãng không kèm theo biến đổi sắc mặt, như tím xanh quanh miệng hoặc giảm nhịp tim và không gây ra nguy hiểm gì cho trẻ.

Biến chứng cơn ngừng thở ở trẻ sinh non

Mặc dù mọi trẻ sơ sinh đều có những cơn ngừng thở ngắn và nhịp tim giảm, nhưng với trẻ sinh non khi có cơn ngừng thở kéo dài trên 20 giây hoặc nhịp tim giảm xuống dưới 80 nhịp/phút sẽ nguy hiểm đến thần kinh, thậm chí tính mạng của trẻ.

Các bác sĩ phụ trách chăm sóc sức khỏe cho trẻ sinh non thường chỉ quan ngại khi khoảng thời gian ngưng thở kéo dài hay chứng ngưng thở là triệu chứng của một căn bệnh nào đó như hạ đường huyết hay nhiễm trùng. Khi những vấn đề này được điều trị khỏi thì chứng ngưng thở cũng sẽ hết đi.

Các bậc phụ huynh hẳn rất lo lắng, hoảng sợ khi trẻ xảy ra hiện tượng ngừng thở. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, chứng ngưng thở sẽ tự hết ở khoảng 44 tuần tuổi mà ít để lại di chứng gì. Một khi trẻ đã đạt ở mốc tuổi này và chứng ngưng thở đã hết thì sẽ không bao giờ tái phát nữa.

Chẩn đoán cơn ngừng thở ở trẻ sinh non

Để chẩn đoán cơn ngừng thở, trẻ có thể được làm các xét nghiệm định hướng nguyên nhân như xét nghiệm máu, X-quang,… và theo dõi nhịp tim, nhịp thở và nồng độ oxy trong máu. Những xét nghiệm này cũng giúp loại trừ các bệnh lý đi kèm, gây ngưng thở.

Ngoài ra, có thể dựa vào: Theo dõi trẻ có các yếu tố nguy cơ, các bệnh lý của mẹ và con, cơn ngừng thở của trẻ, các xét nghiệm định hướng nguyên nhân. Chẩn đoán phân biệt cơn ngừng thở ở trẻ sinh non < 34 tuần khi đã loại trừ một số nguyên nhân: Thiếu oxy, nhiễm khuẩn, viêm ruột hoạt tử, xuất huyết não màng não, não úng thủy, co giật, còn ống động mạch, thiếu máu, xẹp phổi, chậm nhịp tim khi bú, mẹ dùng thuốc, tăng nhiệt độ môi trường, tắc đường hô hấp trên, hội chứng giảm thông khí bẩm sinh…

Điều trị cơn ngừng thở ở trẻ sinh non như thế nào?

Hầu hết trẻ sơ sinh non tháng (đặc biệt là trẻ dưới 34 tuần tuổi) sẽ được chăm sóc y tế và theo dõi cơn ngưng thở tại phòng điều trị tích cực của bệnh viện (NICU). Ngay khi vừa sinh ra, rất nhiều trẻ sơ sinh non tháng cần phải được trợ thở vì phổi còn quá non yếu và không thể tự hô hấp.

Tất cả trẻ nhỏ sinh non nên được theo dõi ít nhất trong 7 ngày đến khi không còn đợt ngưng thở nào. Dưới đây là những phương pháp khởi động lại nhịp hô hấp cho trẻ:

Với những trẻ có cơn ngừng thở ngắn, có thể áp dụng những biện pháp như:

  1. Ổn định nhiệt độ môi trường
  2. Kiểm soát nguyên nhân khởi phát hoặc làm nặng cơn ngưng thở như nhiễm trùng sơ sinh
  3. Trẻ nên được nằm ở tư thế đầu không ngửa quá cũng không gập quá.
  4. Nhẹ nhàng xoa, vỗ lòng bàn chân hoặc thành ngực trẻ để kích thích trẻ thở.
  5. Trẻ có thể cần được hút, làm sạch mũi miệng để hô hấp dễ hơn
  6. Cung cấp oxy đảm bảo độ bão hòa oxy trong máu 90-95%

Những cơn ngưng thở kéo dài nặng, trẻ có thể phải cần tới những hỗ trợ hô hấp cao hơn:

1. Đặt nội khí quản (Ventilator)

Trẻ sẽ được đặt một ống thông vào khí quản và thiết bị sẽ thổi hơi thở vào phổi của trẻ qua ống này để giúp trẻ hô hấp. Thiết bị được cài đặt để có được số lần thở nhất định trong một phút, trong khi đó nồng độ oxy trong máu và nhịp tim của trẻ vẫn được theo dõi sát sao. Trẻ sinh non có thể được tiêm mũi trợ phổi giúp cho phổi hoàn thiện hơn và trẻ có thể bỏ thở máy trong vòng vài tuần, khi đó bé có thể tự thở bằng hệ hô hấp của mình.

2. Thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP)

Khi trẻ không phải đặt nội khí quản nữa thì thường sẽ chuyển sang thở NCPAP – Thở áp lực dương liên tục qua mũi. Đây là một dạng máy hỗ trợ thở không xâm lấn, giúp trẻ tự thở bằng cách duy trì một áp lực dương liên tục trong suốt chu kỳ thở của trẻ. Thiết bị này thường bao gồm một ống lớn và kèm theo đó là các nhánh ống nhỏ có thể đặt vừa vào mũi của trẻ và kết nối với hệ thống cung cấp oxy cho trẻ.

Áp lực đường thở liên tục cao khi thở NCPAP sẽ giữ cho các phế nang không bị xẹp. Khi những phế nang căng ra thì diện tích bên trong cũng rộng ra do vậy trao đổi khí trong phổi sẽ diễn ra nhiều hơn. Khi khả năng trao đổi khí trong phổi tốt lên thì trẻ cũng đỡ phải gắng sức thở, sẽ đỡ bị kiệt sức và giảm khả năng suy hô hấp nặng lên gây ngừng thở.

3. Sử dụng thuốc

Nhiều trẻ gặp phải tình trạng ngưng thở được chỉ định dùng thuốc uống hoặc tiêm tĩnh mạch caffeine để kích thích hô hấp. Giống như trong cà phê, một liều lượng caffeine nhỏ sẽ giúp giữ cho trẻ tỉnh táo, hưng phấn và kích thích hô hấp. Hầu hết trẻ sẽ cai được caffeine trong giai đoạn ở phòng điều trị tích cực.

4. Điều trị nguyên nhân đi kèm

Nhiễm trùng, thiếu máu, nhiệt độ cơ thể giảm, lượng đường trong máu thấp do trẻ bú ít hoặc các bệnh lý não có thể làm cho cơn ngưng thở nặng hơn.

Làm thế nào để chăm sóc trẻ sinh non gặp chứng ngừng thở tốt nhất tại nhà?

Cơn ngưng thở của trẻ sinh non sẽ hết dần theo thời gian và thường không làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, lúc này trẻ vẫn cần phải theo dõi sát tại nhà.

Nếu trẻ còn xuất hiện những đợt ngưng thở ngắn, thường trẻ sẽ đáp ứng với cách kích thích thở như hướng dẫn ở trên. Nếu không hiệu quả, phụ huynh cần học cách hô hấp nhân tạo, nhấn tim (hồi sức tim phổi cơ bản) và đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.

Hội chứng ngưng thở là hiện tượng khó tránh khỏi đối với trẻ sinh non, nếu cơn ngưng thở kéo dài có thể gây hậu quả nghiêm trọng như suy hô hấp, ảnh hưởng đến thần kinh, hoặc thậm chí là tử vong. Tuy nhiên, bố mẹ cũng không nên quá lo lắng, chỉ cần theo dõi bé chặt chẽ để có biện pháp xử lý kịp thời tránh những tổn thương về sau gây hại cho trẻ.

Tuyết Huỳnh