LUÔN CẬP NHẬT THÔNG TIN MỚI, HỮU ÍCH CHO QUÝ KHÁCH

Dịch hạch: nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng ngừa và điều trị

Bệnh Dịch hạch hay còn được gọi là “cái chết đen” là một trong những đại dịch kinh hoàng nhất lịch sử nhân loại, khi gây ra cái chết cho 1/3 dân số châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ 450 triệu người xuống còn 350 – 375 triệu người vào thời Trung cổ.

Dịch hạch là bệnh gì?

Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và tiến triển cấp tính với biểu hiện nhiễm khuẩn, nhiễm độc toàn thân. Bệnh Dịch hạch có tỷ lệ tử vong cao được xếp vào diện phải kiểm dịch và khai báo quốc tế. Dịch hạch đã từng lưu hành và là nỗi ám ảnh của nhiều quốc gia trên thế giới. Thậm chí, căn bệnh này còn được mệnh danh là “cái chết đen” khi là nguyên nhân gây ra trận đại dịch khủng khiếp nhất vào thời Trung cổ tại châu  u.

Theo thống kê ghi nhận được từ năm 1989 – 2003 tại 25 quốc gia trên thế giới, có hơn 38.000 trường hợp mắc bệnh Dịch hạch, trong đó có hơn 2.800 ca tử vong. Tại Việt Nam vào giai đoạn 1960 – 1970, có khoảng 10.000 trường hợp mắc bệnh Dịch hạch mỗi năm. Những năm sau đó, số ca nhiễm giảm xuống còn khoảng 140 trường hợp mỗi năm. Trong những năm trở lại đây, hầu như không ghi nhận bất cứ trường hợp mắc bệnh nào tại các cơ sở y tế.

Nguyên nhân gây bệnh dịch hạch?

Trực khuẩn Yersinia pestis là nguyên nhân gây ra bệnh Dịch hạch. Đây là một loại trực khuẩn Gram âm thuộc họ Enterobacteriaceae. Trực khuẩn gây bệnh Dịch hạch bị tiêu diệt ở nhiệt độ 55 độ C trong vòng 30 phút và ở 100 độ C trong vòng 1 phút, và bởi những loại thuốc sát khuẩn thường dùng.

Trực khuẩn Yersinia pestis gây bệnh Dịch hạch

Tại Việt Nam, bệnh Dịch hạch thường phát triển mạnh nhất vào mùa khô, do những loài động vật gặm nhấm sinh sôi mạnh nhất vào khoảng thời gian này. Tuy nhiên, không hiếm những trường hợp mắc bệnh Dịch hạch được ghi nhận vào các thời điểm khác trong năm kể cả mùa mưa.

Bệnh Dịch hạch lây truyền như thế nào?

Nguồn lây truyền của bệnh Dịch hạch là từ các loài động vật gặm nhấm là chủ yếu (nhất là ở các loài chuột và bọ chét) rồi từ đó lây truyền bệnh sang người. Thời gian ủ bệnh của bệnh Dịch hạch là từ 1 – 7 ngày, và từ 1 – 4 ngày đối với bệnh Dịch hạch thể phổi tiên phát.

Đường lây truyền chủ yếu của bệnh Dịch hạch qua trung gian bọ chét, đặc biệt là loài bọ chét chuột Phương Đông (Xenopsylla cheopis). Bọ chét sẽ hút máu vật chủ, từ đó trực khuẩn Yersinia pestis nhân lên trong tiền dạ dày và làm tắc nghẽn đường tiêu hóa của bọ chét. Sau đó khi bọ chét đốt người, trực khuẩn gây bệnh Dịch hạch sẽ xâm nhập vào cơ thể con người qua vết đốt, lan truyền bệnh. Bệnh còn có thể lây lan trực tiếp từ người sang người qua bọ chét ký sinh trên người (Pulex irritans).

Bọ chét là loài động vật trung gian lây truyền bệnh Dịch hạch

Ngoài ra, bệnh Dịch hạch còn lây truyền trực tiếp từ vật chủ mang bệnh sang vật chủ lành, mà không thông qua trung gian thông qua các con đường như:

  • Đường hô hấp: Bệnh nhân Dịch hạch thể phổi có thể lây truyền bệnh cho những người xung quanh qua nước bọt bắn ra khi ho hoặc hắt hơi. Hoặc người lành hít phải vi khuẩn Dịch hạch trong không khí do vật chủ chết vì Dịch hạch.
  • Đường da, niêm mạc: Các vi khuẩn Dịch hạch còn có thể xâm nhập vào cơ thể qua da khi bị trầy xước, tổn thương. Đây là những trường hợp bệnh Dịch hạch khá hiếm gặp.
  • Đường tiêu hóa: Người lành ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn do chuột trực tiếp gieo rắc mầm bệnh. Tuy nhiên, con đường lây truyền này cũng rất hiếm gặp do vi khuẩn Dịch hạch sẽ chết khi thức ăn được nấu chín.

Dấu hiệu và triệu chứng bệnh Dịch hạch

Bệnh Dịch hạch bao gồm các thể bệnh: thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết, thể phổi và thể da.

Giai đoạn toàn phát của thể hạch bao gồm các triệu chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sưng hạch

Thể hạch

Thể hạch thường phát bệnh đột ngột. Các triệu chứng biểu hiện của thể hạch là ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu, buồn nôn. Sau khi phát bệnh, thể hạch chuyển sang giai đoạn toàn phát với các triệu chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sưng hạch. Tùy vào tình trạng bệnh ở mỗi người mà kích thước của hạch khác nhau, có thể to bằng ngón tay cái, cũng có thể to bằng quả trứng gà. Lúc đầu, hạch cứng và chắc, sau hạch mềm hóa mủ.

Thể hạch có thể tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn tối cấp với triệu chứng sốt cao khoảng 40 – 41 độ C, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, huyết áp giảm, mạch nhanh, rối loạn tinh thần, hôn mê và thường tử vong trong vòng 3 – 5 ngày. Nếu không được điều trị, vi khuẩn có thể lan tràn qua đường máu và lây nhiễm vào phổi, gây bệnh dịch hạch thể phổi thứ phát.

Thể nhiễm khuẩn huyết

Bệnh Dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết biểu hiện tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc ngay cả khi hạch ngoại vi chưa viêm. Một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết là: sốt cao trên 40 độ, rối loạn hô hấp và tim mạch, tiêu chảy, xuất huyết da, niêm mạc và cơ quan, trong những trường hợp nặng bệnh nhân có thể mê sảng và li bì. Thể nhiễm khuẩn huyết thường là thứ phát sau dịch hạch thể hạch không được điều trị.

Thể phổi

Bệnh Dịch hạch thể phổi có thể lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành, từ đó bùng phát thành đại dịch. Do đó, bệnh Dịch hạch thể phổi được đánh giá là rất nguy hiểm. Một số dấu hiệu có thể gặp ở người bệnh Dịch hạch thể phổi là sốt, suy nhược, viêm phổi tiến triển nhanh với triệu chứng khó thở, đau ngực, ho và đôi khi có đờm loãng, đờm máu. Bệnh Dịch hạch thể phổi có thể tiến triển thành suy hô hấp, sốc và tử vong nhanh chóng.

Thể da

Bệnh Dịch hạch thể da thường có các nốt dát xuất hiện tại vị trí vi khuẩn xâm nhập, sau tiến triển thành mụn nước, mụn mủ lẫn máu. Vùng da xung quanh mụn mủ xung huyết và thâm nhiễm. Khi mụn mủ vỡ sẽ để lại những vết loét với đáy thâm nhiễm vàng, phủ vảy đen (giống bệnh than).

Phương pháp chẩn đoán bệnh dịch hạch

Để chẩn đoán chính xác bệnh Dịch hạch, bệnh nhân cần thực hiện các xét nghiệm lâm sàng xác định sự hiện diện của vi khuẩn. Các loại bệnh phẩm được thu thập làm xét nghiệm như mủ (hạch), máu, đờm,…

Một số phương pháp chẩn đoán bệnh Dịch hạch được thực hiện tại bệnh viện như:

  • Nhuộm soi gram kính hiển vi (Gram, Wayson);
  • Phân lập vi khuẩn;
  • Miễn dịch huỳnh quang;
  • Phát hiện kháng nguyên F1.

Biến chứng của bệnh dịch hạch

Bệnh Dịch hạch không chỉ có tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời, mà còn có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân như hoạt tử đầu chi và viêm màng não.

Hoạt tử đầu chi là tình trạng xảy ra khi các cục máu đông trong các mạch máu nhỏ ở ngón tay, ngón chân làm gián đoạn lưu lượng máu và khiến mô đó chết. Cách xử lý khi các phần của ngón tay và ngón chân đã bị hoại tử thường là cắt cụt.

Ngoài hoạt tử đầu chi, bệnh Dịch hạch còn có thể gây viêm màng bao quanh não và tủy sống (biến chứng Viêm màng não), tuy rằng trường hợp này rất hiếm.

Điều trị dịch hạch như thế nào?

Khi có dấu hiệu của bệnh Dịch hạch, bệnh nhân cần phải được cách ly và nhập viện ngay. Người thân từng tiếp xúc với bệnh nhân Dịch hạch cần phải dùng kháng sinh dự phòng nhóm tetracyclines hoặc cloramphenicol để dự phòng phơi nhiễm.

Cần cách ly và nhập viện ngay khi có dấu hiệu Dịch hạch

Trong quá trình điều trị bệnh, các bác sĩ có thể sử dụng các loại kháng sinh nhóm aminoglycosides (streptomycin, gentamycin), nhóm tetracyclines (tetracyclin, doxycycline), nhóm fluoroquinolones (ciprofloxacin, levofloxacin), nhóm sulfonamides (trimethoprim – sulfamethoxazole) và chloramphenicol. Trong đó, kháng sinh streptomycin hiệu quả nhất trong điều trị bệnh Dịch hạch, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các loại thuốc kháng sinh khác.

Trong quá trình điều trị bệnh, việc lựa chọn và kết hợp các loại kháng sinh khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như chức năng thận, khả năng dung nạp kháng sinh của bệnh nhân, tác dụng phụ của thuốc, độ tuổi, giới tính và tình trạng bệnh. Do tác dụng phụ của thuốc, nên phụ nữ và trẻ em là hai nhóm đối tượng mà lợi ích và nguy cơ nên được cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình điều trị.

Song song với việc điều trị bệnh bằng thuốc kháng sinh, cần kết hợp với việc điều trị các triệu chứng: giảm đau, truyền dịch, hạ sốt, chống suy đa phủ tạng, hồi sức. Trong trường hợp điều trị muộn, hạch hóa mủ cần phải chích rạch, tháo mủ để bệnh nhân hết sốt và khỏi bệnh.

Phòng ngừa bệnh dịch hạch

Tuy rằng nhiều năm trở lại đây không ghi nhận ca nhiễm bệnh Dịch hạch, nhưng vì sự an toàn cho cả cộng đồng công tác phòng ngừa bệnh là không thể thiếu. Theo khuyến cáo của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, người dân cần thường xuyên theo dõi kết quả giám sát dịch tễ học Dịch hạch để chủ động phòng chống bệnh.

Khi thấy nhiều chuột chết bất thường, người dân cần khai báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất và tuyệt đối không diệt chuột, bọ chét khi đang xảy ra dịch ở chuột và người. Ở những vùng có dịch bệnh ở động vật, chó và mèo nên được điều trị định kỳ với thuốc diệt côn trùng thích hợp.

Bên cạnh đó, người dân còn cần chủ động vệ sinh môi trường, nơi ở, tránh để chuột chui rút và làm tổ. Ăn chín, uống sôi và phải đảm bảo đồ ăn, thực phẩm được che đậy an toàn tránh để chuột tiếp xúc. Khi có biểu hiện nghi ngờ nhiễm bệnh, người dân cần phải đến các cơ sở y tế để được khám bệnh và điều trị kịp thời.

Trần Phúc