LUÔN CẬP NHẬT THÔNG TIN MỚI, HỮU ÍCH CHO QUÝ KHÁCH

Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván và những điều cần biết về DPT

Vắc xin DPT (trong chương trình TCMR) là vắc xin có tác dụng phòng 3 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván hấp phụ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo, đây là 3 dịch bệnh đã gieo rắc cái chết cho hàng triệu người.

Bài viết được sự tư vấn của Bác sĩ Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống Trung tâm tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC.

Hằng năm, trên toàn thế giới có khoảng 30-50 triệu ca mắc và hơn 300.000 người tử vong vì Ho gà. Chỉ trong năm 2017, toàn cầu ghi nhận 38.000 người chết vì Uốn ván và 8.819 ca mắc Bạch hầu. Nhóm trẻ em lớn và người lớn mắc ho gà được báo cáo tại các quốc gia ngày càng gia tăng, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 1 tuổi và người lớn 26 tuổi.

Riêng tại Việt Nam, từ năm 2015 đến nay, số ca mắc uốn ván vẫn luôn được báo cáo với hơn 350 ca hằng năm. Với bệnh ho gà, bệnh đang có chiều hướng gia tăng số ca mắc, đặc biệt ở trẻ nhỏ < 4 tháng tuổi chưa được bảo vệ bằng vắc xin. Đáng lo ngại nhất, bạch hầu đã lan rộng 5 tỉnh Tây Nguyên, số ca mắc bệnh bạch hầu tăng gấp 3 lần năm ngoái. Từ đầu năm đến 25/9/2020, cả nước ghi nhận 198 ca bạch hầu, 4 người tử vong, trong đó, 161 bệnh nhân không tiêm chủng bạch hầu, chỉ 37 bệnh nhân có tiêm chủng. Xuất hiện ở người trên 65 tuổi, trẻ dưới một tuổi, bệnh bạch hầu vẫn đang tiếp tục thể hiện mức độ nguy hiểm do tỷ lệ miễn dịch cộng đồng ở những “vùng lõm” tiêm chủng.

Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo trẻ em cần tiêm đúng lịch và đúng liều các vắc xin ngừa 3 bệnh này ngay từ năm đầu đời và không được bỏ qua các mũi tiêm nhắc lại sau đó. Vì các vắc xin này thường chỉ tạo hiệu quả bảo vệ cơ thể trong một giai đoạn nhất định, theo thời gian, sự miễn dịch phòng bệnh sẽ suy giảm, nếu không được tiêm nhắc lại, sẽ có nguy cơ nhiễm bệnh.

Vắc xin DPT là gì?

DPT là một loại vắc xin phối hợp từ giải độc tố bạch hầu tinh chế, giải độc tố uốn ván tinh chế và huyền dịch vi khuẩn ho gà vô bào hoặc toàn tế bào đã bất hoạt, được hấp phụ bằng tá chất Aluminium phosphate, chống lại 3 bệnh truyền nhiễm gồm: Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván.

Kể từ khi vắc xin DPT được sử dụng trong chương trình TCMR cho trẻ nhỏ, số ca tử vong do các bệnh này đã giảm đáng kể. Đặc biệt, ưu điểm của vắc xin DPT là phòng được 3 bệnh trong 1 mũi tiêm nên hạn chế được số lần tiêm cho trẻ, giúp tiết kiệm được thời gian, chi phí và bảo vệ trẻ sớm trong những năm đầu đời.

Tiêm vắc xin DPT là giải pháp quan trọng giúp ngăn ngừa nguy cơ nhiễm Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván

Vắc xin DPT phòng bệnh gì?

Theo Báo cáo đánh giá đối với vắc xin Bạch hầu- Ho gà- Uốn ván hấp phụ (DPT), vắc xin DPT phòng 3 bệnh:

a. Bạch hầu:

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra. Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae sinh ngoại độc tố gây ra. Người là vật chủ tự nhiên duy nhất của C.diphtheria. Bệnh bạch hầu được lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang vi khuẩn bạch hầu. Bệnh còn có thể lây do tiếp xúc với những đồ vật có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu.

Trên người ở mọi độ tuổi không có miễn dịch từ trước, triệu chứng bạch hầu thường xảy ra sau một thời kỳ ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày (ở mọi độ tuổi). Bệnh khởi phát với sự phát triển dần của sốt từ thấp đến trung bình và viêm họng xuất tiết nhẹ. Trong các trường hợp nặng, giả mạc dần hình thành trong vòm họng, có màu trắng xám, không đối xứng và dính chặt vào mô bên dưới. Giả mạc có thể lan rộng vào hốc mũi và thanh quản gây tắc nghẽn đường thở. Bạch hầu thanh quản có thể xảy ra mà không có tổn thương họng và là một cấp cứu nội khoa, thường cần mở khí quản. Ngoại độc tố được hấp thu từ các tổn thương niêm mạc (hoặc da) có thể giải thích cho sự nhiễm độc của các cơ quan như cơ tim, thận và hệ thần kinh. Biến chứng và tử vong chủ yếu là do ảnh hưởng của ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu và do giả mạc gây tắc nghẽn ở đường hô hấp trên, viêm cơ tim và bệnh lý thần kinh ngoại biên và các mô khác. Tỉ lệ tử vong (CFR) là 3-23%. Sau khi mắc bệnh sẽ có miễn dịch suốt đời.

Bệnh bạch hầu có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch nhất là ở trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ. Ở phần lớn các nước công nghiệp, bệnh bạch hầu lưu hành địa phương đã biến mất hoặc trở nên cực hiếm nhờ tiêm chủng. Bạch hầu hiếm gặp ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi vì có sự hiện diện của kháng thể từ người mẹ. Ở các nước đang phát triển, bạch hầu tiếp tục có tỉ lệ mắc và tử vong đáng kể do mật độ bao phủ tiêm chủng vắc-xin bạch hầu thấp. Ở những nước có bệnh bạch hầu lưu hành, trẻ em trước tuổi đi học và học sinh là những đối tượng thường bị bạch hầu hô hấp. Tuy nhiên, người ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có thể nhiễm bệnh bạch hầu nếu không được tiêm phòng.

b. Uốn ván:

Uốn ván là bệnh nhiễm khuẩn do Clostridium tetani – một loại trực khuẩn tạo nha bào có mặt khắp nơi – gây ra, vi khuẩn này có thể sản xuất một độc tố thần kinh gọi là tetanospasmin. Độc tố chẹn các chất dẫn truyền thần kinh ức chế ở hệ thần kinh trung ương và gây co cứng cơ điển hình của uốn ván toàn thể hóa. Bệnh uốn ván có thể không bao giờ được thanh toán vì nha bào C.tetani khá phổ biến trong môi trường và có thể nằm trong đường tiêu hóa của người và động vật. Uốn ván không lây từ người sang người.

Thời kỳ ủ bệnh của uốn ván thay đổi từ 2 ngày đến 2 tháng. Uốn ván thường có biểu hiện cứng hàm và co giật toàn thân đột ngột. Co cứng thanh môn có thể gây đột tử. Uốn ván sơ sinh bắt đầu xảy ra 3 đến 14 ngày sau sinh, thường là do nhiễm khuẩn cuống rốn. Co cứng toàn thân ở trẻ sơ sinh thường xảy ra sau triệu chứng không bú được và la khóc nhiều. Tỷ lệ tử vong trong tổng số người được chẩn đoán uốn ván thay đổi từ 10% đến 70%, tùy thuộc vào điều trị tích cực, tử vong ở những bệnh nhân cao tuổi nhất và nhỏ tuổi nhất hầu như 100%. Uốn ván xảy ra ở tất cả các nhóm tuổi và tỷ lệ chết bệnh có thể cao ngay cả ở nơi có điều kiện điều trị tích cực hiện đại. Uốn ván ở trẻ nhỏ và trẻ em thường phản ánh độ bao phủ kém của chương trình tiêm chủng quốc gia đối với trẻ em.

c. Ho gà:

Ho gà do vi khuẩn Bordetella pertussis gây ra. Vi khuẩn này lây từ người bệnh sang người dễ cảm nhiễm qua các hạt chất tiết. Thời kỳ ủ bệnh dao động từ 6 đến 21 ngày, thường là từ 7 đến 10 ngày. Ho gà bắt đầu với các triệu chứng nhẹ ở đường hô hấp trên (giai đoạn viêm long), tiến triển đến ho rồi các cơn ho kịch phát (giai đoạn ho cơn) với tiếng thở rít vào đặc trưng, tiếp theo thường là nôn ói. Bệnh nhân không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ. Triệu chứng giảm dần qua nhiều tuần đến vài tháng (giai đoạn hồi phục). Ở trẻ em, thời gian ho gà kinh điển là 6 đến 10 tuần.

Phần lớn các trường hợp ho gà có thể nhận biết trên lâm sàng xảy ra ở trẻ em từ 1 đến 5 tuổi. Bệnh nặng và tử vong được báo cáo chủ yếu ở rất nhỏ, chưa có miễn dịch, tức là trong 6 tháng đầu đời, và ở trẻ sinh non. Bệnh ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi có thể không điển hình: giai đoạn viêm long ngắn, những biểu hiện sớm chủ yếu là nôn ọe, thở ngáp, hoặc ngưng thở; không có tiếng gà rít; và giai đoạn hồi phục kéo dài. Bệnh ở trẻ lớn và người lớn cũng có thể có những biểu hiện không điển hình khi ho không thành cơn hoặc đi kèm với tiếng rít hít vào. Các biến chứng (viêm phổi, co giật, bệnh lý não) xảy ra ở 5% đến 6% số trường hợp ho gà, hay gặp nhất là ở trẻ < 6 tháng tuổi. Viêm phế quản-phổi (5,2%) là vấn đề nổi bật nhất, với tỷ lệ tử vong tương đối cao.

Trong giai đoạn viêm long ban đầu, ho gà rất dễ lây, với tỉ lệ tấn công thứ phát lên đến 90% ở những người không có miễn dịch khi tiếp xúc trong gia đình. Thiếu niên và người lớn được chứng minh là vật chủ chứa vi khuẩn ho gà và là nguồn lây cho trẻ em. Vì vậy, giảm tỷ lệ bệnh ở các nhóm tuổi lớn hơn là việc quan trọng để giảm lây truyền cho trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi chưa được tiêm phòng. Khi mang thai, mẹ không có miễn dịch với ho gà trước đó thì con sinh ra sẽ không có kháng thể bảo vệ và con sinh ra sẽ không có kháng thể bảo vệ có nguy cơ cao mắc ho trước thời điểm con được tiêm vắc xin. Bệnh nhân không điều trị có thể làm lây bệnh trong 3 tuần hoặc hơn nữa sau khi khởi phát các cơn ho gà điển hình, mặc dù tính lây lan giảm nhanh sau giai đoạn viêm long.

Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván có thể khiến trẻ bị suy hô hấp, rối loạn thần kinh và tim ngừng đập nếu không được điều trị kịp thời.

Phác đồ tiêm vắc xin DPT

Vắc xin DPT được sử dụng miễn phí như một phần trong chương trình tiêm chủng mở rộng dành cho trẻ em từ 2 tháng tuổi trở lên. Để đạt hiệu quả tối đa, DPT nên được tiêm lúc trẻ 15 – 18 tháng tuổi (mũi nhắc lại) sau khi đã tiêm 3 mũi đầu là vắc xin 5 trong 1 của TCMR (Combe Five hay SII), và cách mũi 3 ít nhất 9 tháng.

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, trẻ nên được tiêm phòng vắc xin 5 trong 1 vào các mốc thời gian 2, 3 và 4 tháng tuổi và đặc biệt lưu ý đến mũi nhắc (DFT) của trẻ lúc 15 – 18 tháng tuổi.

Theo bác sĩ Bạch Thị Chính – Giám đốc Y khoa Hệ thống tiêm chủng Trẻ em và Người lớn VNVC cho biết: “Khi trẻ chuẩn bị vào lớp 1, bố mẹ lưu ý cần cho trẻ tiêm nhắc lại mũi phòng Bạch hầu – Uốn ván – Ho gà (trong TCMR) vì lúc này, miễn dịch đối với 3 bệnh mà trẻ đã được tiêm trước đây đã suy giảm. Nếu ở trong một xã hội thu nhỏ như trường học, các bệnh truyền nhiễm như Bạch hầu – Uốn ván – Ho gà có thể lây lan rất nhanh khi trẻ tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh.

Nếu bỏ qua các thời điểm trên, trẻ nên được đưa đến tiêm phòng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên lúc này, trẻ không còn được hưởng chính sách miễn phí của chương trình tiêm chủng mở rộng.

Tính an toàn và những phản ứng có thể xảy ra sau tiêm vắc xin DPT?

Những phản ứng sau khi tiêm DPT thường nhẹ, thường gặp là:

  • Sốt: khoảng nửa số trẻ em sau tiêm DPT bị sốt vào buổi tối và có thể hết sau 1 ngày.
  • Đau nhức: có khoảng một nửa số trẻ có thể bị đau, nổi ban, sưng tại chỗ tiêm.
  • Quấy khóc: có thể gặp trên 1% số trẻ, nguyên nhân thường do đau.
  • Những phản ứng nghiêm trọng hơn như: co giật (thường liên quan tới sốt, chiếm tỷ lệ 1/12.500 liều được tiêm) và giảm trương lực cơ (chiếm tỷ lệ 1/1.750 liều được tiêm). Phản ứng quá mẫn thường hiếm gặp.
  • Không có bằng chứng nào cho thấy vắc xin DPT là nguyên nhân gây nên những rối loạn thần kinh nghiêm trọng, ví dụ như viêm não.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị những nơi có đủ nguồn lực có thể thực hiện 1 liều DPT nhắc lại sau khi đã hoàn thành 3 liều đầu. Sự cần thiết đối với liều tiêm nhắc DPT tùy chương trình tiêm chủng của mỗi quốc gia.

Trường hợp nào trẻ không được tiêm vắc xin DPT?

Cũng giống như một số vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng như: Quinvaxem, ComBE Five; SII tuyệt đối không tiêm vắc xin DPT cho trẻ nếu tiền sử có phản ứng mạnh đối với liều tiêm trước hoặc có phản ứng mạnh đối DPT-VGB-Hib, vắc xin viêm gan B, vắc xin Hib như:

  • Sốt cao trên 39°C kèm co giật.
  • Dấu hiệu não/màng não, tím tái, khó thở trong vòng 2 ngày sau tiêm vắc xin.
  • Co giật có kèm theo sốt hoặc không sốt trong vòng 3 ngày sau tiêm vắc xin.
  • Khóc dai dẳng trên 3 giờ trong vòng 1 ngày sau tiêm vắc xin
  • Giảm trương lực cơ trong vòng 2 ngày sau tiêm vắc xin.
  • Trường hợp có vấn đề liên quan đến thần kinh hoặc bị viêm não sau mũi tiêm trước đó.
  • Hoãn tiêm cho trẻ nếu trẻ đang ốm, sốt hoặc mắc các bệnh cấp tính.

Xem thêm: Tại sao phải tiêm 3 mũi: Bạch hầu – Uốn ván – Ho gà cùng lúc và phải tiêm nhắc?

Vắc xin 3 trong 1 trong chương trình tiêm chủng dịch vụ khác vắc xin DPT (chương trình TCMR) như thế nào?

Cùng là vắc xin phòng 3 bệnh bạch hầu – ho gà – uốn ván, nhưng vắc xin Tdap (Adacel hay Boostrix) khác hẳn với vắc xin DPT trong chương trình Tiêm chủng mở rộng ở thành phần Ho gà.

Trong vắc xin DPT chứa thành phần ho gà toàn tế bào (nghĩa là vắc xin tinh chế từ vi khuẩn ho gà sau khi được nuôi cấy tăng sinh trong môi trường và làm chết bằng nhiệt độ). Trong khi đó vắc xin 3 trong 1 Adacel và Boostrix chứa thành phần ho gà vô bào (chỉ chứa thành phần kháng nguyên đặc hiệu sau khi đã loại bỏ những thành phần kháng nguyên không cần thiết khác của vi khuẩn) với nồng độ kháng nguyên ho gà và bạch hầu giảm liều lượng nhưng vẫn đảm bảo hiệu lực kháng sinh bảo vệ, được đánh giá là lành tính hơn và hạn chế các phản ứng sau tiêm cho trẻ.

Chính vì thành phần ho gà vô bào được đánh giá là có phản ứng sau tiêm ít hơn cũng như ít sốt hơn nên các bậc phụ huynh có khuynh hướng chọn vắc xin Tdap (Adacel hay Boostrix) để tiêm phòng cho con từ 4 tuổi trở lên.

VNVC địa chỉ tiêm chủng an toàn – Bố mẹ an tiêm tiêm chủng trong “mùa dịch”.

Hiện VNVC đang sẵn có các loại vắc xin kết hợp có thành tố chống Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván phục vụ ba mẹ đưa trẻ đến tiêm. Tuy nhiên đây là loại vắc xin thường xuyên rơi vào tình trạng khan hiếm nên để đảm bảo luôn có vắc xin, ba mẹ có thể mua gói vắc xin hoặc đặt trước khi tiêm mũi lẻ vắc xin cho bé tại: http://bit.ly/GOIVACXIN

Khách hàng có thể dễ dàng đặt lịch giữ vắc xin tại VNVC để đảm bảo con yêu sẽ được tiêm đủ mũi vắc xin “siêu khan hiếm”. Chỉ cần gọi điện lên hotline 028 7300 6595 hoặc đặt lịch tiêm vắc xin cho trẻ em và người lớn tại: https://vnvc.vn/dang-ky-thong-tin-tiem-chung/.

Tuyết Huỳnh