Bạch hầu thanh quản: Triệu chứng, nguy nhân, điều trị

18:51 07/05/2025

Quản lý Y khoa
Hệ thống Tiêm chủng VNVC
Bạch hầu thường là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp trên, có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm, gây tử vong ở khoảng 5 - 10% các trường hợp người nhiễm bệnh. Tỷ lệ này ghi nhận cao hơn ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi và bệnh thường điển hình bởi tình trạng bạch hầu sinh giả mạc trắng ở thanh quản, gây cản trở hô hấp, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh. Vậy bạch hầu thanh quản là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị như thế nào để hạn chế nguy hiểm?
| BS Hoa Tuấn Ngọc - Quản lý Y khoa khu vực 1 Đông Nam Bộ, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC cho biết: “Bạch hầu thanh quản có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thận và hệ thần kinh trung ương. Biến chứng về tim ghi nhận phổ biến ở người bệnh là viêm cơ tim (biểu hiện lâm sàng ở 10 - 25% bệnh nhân), loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền và suy tim cấp. Trong khi độc tính thần kinh xảy ra ở 5% bệnh nhân mắc bệnh nhẹ và 75% bệnh nhân, gây ra tình trạng liệt vòm miệng và thành sau hầu họng. Các biến chứng liên quan đến thận gồm hoại tử ống thận, bạch hầu ngoài da... cũng có nguy cơ cao gây tử vong ở người bệnh.” (1) |

Bạch hầu thanh quản là gì?
Bạch hầu thanh quản là tình trạng nhiễm trùng cấp tính do độc tố bạch hầu, lây lan từ vòm họng đến thanh quản, gây tắc nghẽn đường thở. Dấu hiệu đặc trưng của bạch hầu thanh quản là một màng giả màu trắng xám xuất hiện trong vòng 2 - 3 ngày sau khi phát bệnh, bám chặt chủ yếu ở niêm mạc amidan, hầu, thanh quản hoặc lỗ mũi và có thể lan vào khí quản. Bệnh truyền nhiễm này được đặc trưng bởi các bệnh nhiễm trùng da và niêm mạc, đôi khi tiến triển thành nhiễm trùng khu trú sau khi nhiễm trùng huyết.
Dịch bệnh bạch hầu với lớp giả mạc ở họng được mô tả trong y văn lần đầu vào năm 1613 tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, đến năm 1883, Nhà Vi khuẩn học người Đức Edwin Klebs mới phát hiện tác nhân gây bệnh dưới kính hiển vi và một năm sau Friedrich Loeffler mới chính thức phân lập được vi khuẩn trong phòng thí nghiệm của Robert Koch. (2)
Bệnh bạch hầu được ghi chép lại từ thời Ai Cập và Hy Lạp cổ đại, nhưng các đợt bùng phát nghiêm trọng chỉ bắt đầu sau năm 1700, với tỷ lệ 1/10 trẻ em bị nhiễm bệnh đã tử vong vì căn bệnh này. Các đợt bùng phát dịch bạch hầu ở quá khứ đã gây ra hậu quả khủng khiếp trong lịch sử, điển hình tại một thị trấn ở New Hampshire (New York) ghi nhận 32% trẻ em dưới 10 tuổi tử vong vì bệnh bạch hầu. (3)

Bệnh bạch hầu có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch nhất là ở trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ. Ở phần lớn các nước công nghiệp, bệnh bạch hầu lưu hành địa phương đã biến mất hoặc trở nên cực hiếm nhờ tiêm chủng. Bạch hầu hiếm gặp ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi vì có sự hiện diện của kháng thể từ người mẹ. Ở các nước đang phát triển, bạch hầu tiếp tục có tỉ lệ mắc và tử vong đáng kể do mật độ bao phủ tiêm chủng vắc xin bạch hầu thấp.
Việc tiêm chủng bằng độc tố bạch hầu đã làm thay đổi đáng kể tình trạng dịch tễ học của bệnh bạch hầu. Vắc xin đầu tiên chống lại bệnh bạch hầu được phát triển vào đầu những năm 1800 và sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ từ năm 1914, đã làm giảm đáng kể số ca mắc bệnh và bệnh bạch hầu gần như bị loại trừ. (4)
Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu thanh quản
Bạch hầu thanh quản là tình trạng nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây bệnh, có khả năng lây lan dễ dàng từ người sang người nếu không có biện pháp dự phòng hiệu quả.
1. Tác nhân gây bệnh
Corynebacterium diphtheriae (bạch hầu khuẩn) là nguyên nhân chính gây ra căn bệnh bạch hầu thanh quản. Đây là loại trực khuẩn gram dương, không vỏ bọc, không di động, hiếu khí và phình to một đầu như hình dùi trống hoặc phình to hai đầu như hình quả tạ. Vi khuẩn thường được thấy ở giả mạc bạch hầu màu trắng xám tại đường hô hấp hoặc dịch tiết sang thương da.
Bạch cầu khuẩn có 3 type điển hình là Mitis, Intermedius và Gravis theo thứ tự khả năng gây bệnh tăng dần. Cả 3 type này đều có thể sản sinh độc tố nhưng type Gravis được ghi nhận là gây ra các thể bệnh nặng hơn so với những type còn lại.
Con người là ổ chứa của vi khuẩn bạch hầu chủ yếu bao gồm cả người đang bị nhiễm trùng, người đang trong giai đoạn hồi phục và người đang mang mầm bệnh tiềm ẩn. Ngoài ra, một số loại động vật khác như mèo, chó, ngựa và các loài động vật thuần hóa khác, cũng có khả năng chứa vi khuẩn bạch hầu.
2. Con đường lây truyền
Vi khuẩn bạch hầu sống ở trong miệng, mũi, họng hoặc trên da của người nhiễm bệnh. Khi vi khuẩn bạch hầu xâm lấn vào cơ thể, chúng sẽ bám vào niêm mạc thanh quản, bắt đầu sinh sôi và tiết ra độc tố bạch hầu, gây viêm và phá hủy các mô tại chỗ, dẫn đến sự hình thành màng giả bám chặt vào niêm mạc thanh quản. Bạch cầu khuẩn có khả năng lây lan qua các con đường như sau:
- Đường hô hấp: Các giọt bắn có chứa vi khuẩn bạch hầu thông qua các hành động ho, hắt hơi hay nói chuyện của người bệnh lan truyền vào không khí, khiến người khỏe mạnh hít phải và lây nhiễm bệnh, đặc biệt là người chưa có miễn dịch chống lại vi khuẩn bạch hầu. Ở những vùng lưu hành bệnh, có khoảng 3-5% người khỏe mạnh có thể mang vi khuẩn bạch hầu sinh độc tố;
- Tiếp xúc gián tiếp: Vi khuẩn bạch hầu có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài lên tới 6 tháng, nên người khỏe mạnh có thể vô tình chạm phải những vật dụng như dao kéo, cốc, quần áo, khăn giấy… có chứa virus rồi chạm vào những vết loét đan bị nhiễm trùng hoặc niêm mạc mắt, mũi, miệng… từ đó bị lây bệnh.
⇒ Tham khảo thêm bài viết chi tiết: Bệnh bạch hầu lây qua đường nào? Làm sao phòng tránh lây nhiễm?
Cần lưu ý, nếu không được điều trị bằng kháng sinh, những người mắc bệnh bạch hầu có khả năng lây nhiễm bệnh trong vòng 4 tuần, kể từ khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện. (5)

Bệnh bạch hầu thanh quản có nguy hiểm không?
Bệnh bạch hầu thanh quản có thể gây nguy hiểm nếu không được can thiệp kịp thời, nguy cơ dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về đường hô hấp, thần kinh, tim mạch, thậm chí tử vong.
1. Tắc nghẽn đường thở
Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn nghiêm trọng thường ảnh hưởng đến niêm mạc mũi và họng. Trong các trường hợp bệnh trở nặng, giả mạc sẽ dần hình thành trong vòm họng, amidan hoặc khí quản, có màu trắng xám, không đối xứng và dính chặt vào mô bên dưới. Các giả mạc này có thể lan rộng vào hốc mũi và thanh quản gây tắc nghẽn đường thở ở người bệnh. (6)
Tình trạng này có thể khiến người bệnh bị ngạt thở, dẫn đến suy hô hấp cấp tính. Nếu không được cấp cứu kịp thời bằng cách mở khí quản hoặc hỗ trợ hô hấp, người bệnh có nguy cơ tử vong rất nhanh.
2. Viêm cơ tim và hệ thần kinh
Theo các chuyên gia y tế, độc tố bạch hầu có thể lan truyền qua đường máu và gây tổn thương cơ tim, gây ra biến chứng viêm cơ tim nhẹ hoặc nghiêm trọng. Tình trạng viêm cơ tim biểu hiện lâm sàng ở khoảng 10 - 25% bệnh nhân. Trong trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân có thể dẫn đến loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền, suy tim cấp dẫn đến tử vong đột ngột.
Những triệu chứng của viêm cơ tim thường phát triển sau 1 - 2 tuần kể từ khi xuất hiện bùng phát triệu chứng. Nguy cơ phát triển biến chứng tim tỉ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh và thường khởi phát sau 7 - 10 ngày kể từ khi các triệu chứng hô hấp cải thiện. Viêm cơ tim nặng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân nhiễm bạch hầu.
Ngoài ra, độc tính thần kinh có thể xảy ra ở 5% bệnh nhân mắc bệnh nhẹ và ở 75% bệnh nhân mắc bệnh nặng, bao gồm tình trạng liệt vòm miệng mềm và thành sau hầu họng do ảnh hưởng bởi thần kinh sọ. Bệnh thần kinh ngoại biên có thể xảy ra sau đó vài tuần đến vài tháng và có thể bao gồm liệt cơ hô hấp, bệnh thần kinh cảm giác.
Biểu hiện thần kinh (đặc biệt là liệt hành tủy) thường xuất hiện sớm nhất là vào những ngày đầu của bệnh bạch hầu. Bệnh thần kinh ngoại biên về cảm giác và vận động phát triển trong tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 của bệnh. Các triệu chứng thường thuyên giảm chậm trong một số tuần mà không để lại di chứng vĩnh viễn. Mức độ nghiêm trọng của quá trình hình thành màng tương quan với sự khởi phát của các triệu chứng và sự chậm trễ trong việc sử dụng thuốc kháng độc tố của người bệnh.
3. Nguy cơ tử vong nếu không điều trị kịp thời
Theo các chuyên gia y tế, bệnh bạch hầu thanh quản nếu điều trị kháng sinh kịp thời, tiên lượng và khả năng hồi phục được đánh giá tốt, mặc dù bệnh nhân có thể nằm viện kéo dài (từ 1 - 3 tháng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng). Tuy nhiên, vẫn tồn tại tỷ lệ tử vong chung ở 5 - 10% trong các trường hợp, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi và người lớn từ 40 tuổi có tỷ lệ tử vong lên đến 20%. (7)
Các trường hợp tử vong phổ biến hơn ở những bệnh nhân xuất hiện các biến chứng nguy hiểm do nhiễm trùng bạch hầu, bao gồm viêm cơ tim, viêm dây thần kinh và suy hô hấp do tắc nghẽn đường thở. Trong đó, tình trạng viêm cơ tim có tỷ lệ tử vong cao nhất, chiếm khoảng 60 - 80% các trường hợp. Nguy cơ tử vong có thể xảy ra chỉ trong vòng 6 - 10 ngày sau nhiễm trùng.
Trong lịch sử dịch tễ, vào những năm 1970, trước khi vắc xin được sử dụng rộng rãi, ước tính có 1 triệu ca mắc bệnh bạch hầu, trong đó có khoảng 50.000 – 60.000 ca tử vong xảy ra hàng năm ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Sau khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) triển khai Chương trình Tiêm chủng Mở rộng vào năm 1974, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu đã giảm hơn 90% từ năm 1980 đến năm 2000. (8)

Đối tượng nguy cơ cao dễ mắc bệnh bạch hầu thanh quản
Theo các chuyên gia y tế, cơ chế sinh bệnh bạch hầu liên quan mạnh mẽ đến nhiều yếu tố bao gồm tiêm chủng không đầy đủ, suy giảm miễn dịch theo thời gian, miễn dịch cộng đồng thấp, du lịch đến vùng lưu hành bệnh bạch hầu, tình trạng kinh tế xã hội thấp, tình trạng di cư lan rộng, môi trường sống quá đông đúc. (9)
Do đó, một số đối tượng được ghi nhận có nguy cơ cao mắc bệnh bạch hầu thanh quản bao gồm:
- Bất kỳ người nào chưa có miễn dịch với bạch hầu, bao gồm miễn dịch từ mắc bệnh và chưa tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ;
- Người mắc các bệnh nền mạn tính khác về tim mạch, gan, thận;
- Người bị suy giảm miễn dịch;
- Người sống trong môi trường có điều kiện vệ sinh kém, đông đúc, miễn dịch cộng đồng ở mức thấp.
Triệu chứng bệnh bạch hầu thanh quản
Triệu chứng của bệnh bạch hầu có thể biểu hiện từ nhẹ đến nặng, thậm chí không có triệu chứng, tùy theo mức độ nhiễm trùng và thể trạng của mỗi cá nhân. Nhìn chung, bệnh bạch hầu thanh quản thường khởi phát các triệu chứng và các dấu hiệu như sau:
1. Triệu chứng khởi phát
Bệnh bạch hầu có thời gian ủ bệnh trung bình kéo dài từ 2 đến 5 ngày và dao động rộng từ 1 đến 10 ngày. Bệnh thường bắt đầu các triệu chứng giống cúm không đặc hiệu, bao gồm sốt, đau họng, khàn giọng, sưng hạch bạch huyết ở cổ, khó thở hoặc thở nhanh, chảy nước mũi, ớn lạnh, mệt mỏi. Thậm chí có người không biểu hiện triệu chứng rõ ràng nào cả - được gọi là người mang mầm bệnh bạch hầu tiềm ẩn.
Trong giai đoạn đầu, bệnh có thể bị nhầm lẫn với tình trạng đau họng nghiêm trọng, cản trở việc chẩn đoán ban đầu. Những người mang vi khuẩn bạch hầu có thể lây nhiễm cho người khác trong vòng 4 tuần, ngay cả khi họ không phát triển triệu chứng.
2. Dấu hiệu đặc trưng của bạch hầu thanh quản
Dấu hiệu đặc trưng của bạch hầu thanh quản là tình trạng xuất hiện một màng màu xám dày ở vùng họng. Theo các chuyên gia y tế, trong vòng 2–3 ngày kể từ khi nhiễm trùng, các mô chết trong đường hô hấp sẽ dần tạo thành một lớp phủ dày, màu xám có thể bao phủ các mô ở mũi, amidan và cổ họng, khiến việc thở và nuốt trở nên khó khăn.
3. Dấu hiệu nặng
Theo các chuyên gia y tế, bệnh bạch hầu khi trở nặng thường xuất hiện lớp màng giả màu trắng xám bên trong họng và amidan, mọc thành từng mảng lớn khiến người bệnh bị tắc nghẽn đường thở, nguy cơ suy hô hấp cấp tính.
Cần lưu ý, các trường hợp mắc bệnh nặng có thể không biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn giọng, thở bất thường, rối loạn nhịp tim dẫn đến tê liệt hoàn toàn. Diễn tiến bệnh nghiêm trọng có thể khiến người bệnh tử vong nhanh trong vòng 6 - 10 ngày.
Chẩn đoán bạch hầu thanh quản
1. Xét nghiệm chẩn đoán
Xác định tác nhân gây bệnh
- Xét nghiệm trực tiếp từ giả mạc để phát hiện bệnh;
- Xét nghiệm nuôi cấy tế bào Nuôi cấy bằng môi trường Loeffler hoặc thạch tellurite thông qua mẫu vật tăm bông mũi họng, mảnh màng giả, tăm bông sâu từ vết loét ở bệnh nhân bị bạch hầu ngoài da. Sau đó xét nghiệm vi sinh trong phòng thí nghiệm;
- Xét nghiệm phát hiện độc tố Cần phải thử nghiệm sản xuất độc tố để phân biệt các chủng bạch hầu sinh độc tố và không sinh độc tố . Có thể sử dụng xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để phát hiện gen độc tố. Tuy nhiên, xét nghiệm này không chỉ ra liệu độc tố có được sản xuất hay không và do đó cần phải xác nhận bằng phương pháp nuôi cấy.
Các xét nghiệm khác
- Xét nghiệm dịch não tủy ở những bệnh nhân có bất thường về thần kinh (nồng độ protein tăng với số lượng tế bào bình thường);
- Đo troponin tim để phát hiện tổn thương tim;
- Điện tâm đồ (ECG): Ghi lại hoạt động điện học của tim dưới dạng đồ thị
2. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Ở những bệnh nhân có tổn thương đường hô hấp điển hình, chẩn đoán ban đầu dựa trên các đặc điểm lâm sàng. Chẩn đoán nên được xác nhận bằng các xét nghiệm vi sinh từ dịch tiết đường hô hấp hoặc tổn thương da. Các xét nghiệm khác thường không đặc hiệu và có thể chứng minh số lượng bạch cầu tăng cao và protein niệu.
3. Chẩn đoán phân biệt
Bệnh bạch cầu cần phân biệt với các tình trạng nhiễm trùng khác bao gồm viêm họng cấp, viêm amidan, áp xe quanh amidan, áp xe sau họng, viêm nắp thanh quản cấp do nhiễm trùng Haemophilus influenzae , bệnh nấm miệng, bệnh nấm thực quản, dị vật đường hô hấp...

Phương pháp điều trị bệnh bạch hầu thanh quản
Bệnh bạch hầu thanh quản thường kéo dài từ 3 - 4 ngày và có thể tự khỏi nếu được can thiệp đúng cách. Đối với tình trạng nhẹ, người bệnh có thể được chăm sóc tại nhà bằng cách bổ sung nước đầy đủ và thực hiện các phương pháp hạ sốt. Việc sử dụng thuốc kháng viêm Dexamethasone liều cao (0,6 mg/kg) tiêm bắp hoặc uống một lần (liều tối đa 10mg) có thể mang lại hiệu quả nếu dùng sớm trong 24 giờ đầu, giúp ngăn ngừa nguy cơ nhập viện vì viêm thanh khí phế quản nặng.
Trong một số trường hợp bệnh có thể tiến triển nghiêm trọng với các biểu hiện như suy hô hấp, nhịp tim nhanh, mệt mỏi, tím tái hoặc giảm oxy máu, mất nước… người bệnh cần thăm khám bác sĩ ngay lập tức. Tại đây, bác sĩ sẽ chỉ định đo SpO2 để theo dõi và đánh giá mức độ nguy hiểm. Nếu mức bão hòa oxy xuống dưới 92% cần cung cấp oxy làm ẩm và nên làm khí máu động mạch để đánh giá CO2 trong máu. Thông thường cung cấp nồng độ oxy từ 30 - 40% là đủ.
- Liệu pháp kháng độc tố bạch hầu: Nên được dùng càng sớm càng tốt và không nên trì hoãn để chờ kết quả xét nghiệm vi sinh. Liều lượng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và nên tiêm tĩnh mạch trong 60 phút.
- Liệu pháp kháng sinh: Sử dụng Penicillin, Erythromycin, Rifamycin hoặc Clindamycin giúp tiêu diệt vi sinh vật, ngăn ngừa sự hình thành độc tố, làm chậm sự lây lan của nhiễm trùng tại chỗ và giảm lây truyền;
Bên cạnh đó, bác sĩ có thể thực hiện các phương pháp điều trị triệu chứng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh bao gồm:
- Loại bỏ cơ học các màng giả gây tắc nghẽn đường thở;
- Phòng ngừa tắc nghẽn đường thở bằng cách đặt nội khí quản sớm;
- Kích thích nhịp tim ở những bệnh nhân bị loạn nhịp tim nặng hoặc rối loạn dẫn truyền;
- Có thể cần phải thay van bị nhiễm trùng ở những trường hợp bị viêm nội tâm mạc;
- Truyền dinh dưỡng qua ống thông mũi dạ dày với phần thân trên được nâng cao ở những bệnh nhân bị liệt cơ họng.
Cách phòng ngừa bệnh bạch hầu thanh quản
Theo các chuyên gia y tế, tiêm vắc xin là cách phòng ngừa bệnh bạch hầu thanh quản hiệu quả nhất. Kể từ khi triển khai vắc xin, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu đã giảm nhanh chóng. Trước năm 1920, Hoa Kỳ báo cáo có khoảng 200.000 ca mắc bệnh mỗi năm. Tuy nhiên, con số này đã giảm mạnh sau khi chương trình tiêm chủng rộng rãi, với chỉ khoảng 1.000 ca được báo cáo hàng năm.
Vắc xin phòng bệnh bạch hầu lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1890 và được sử dụng rộng rãi vào những năm 1920, đã ngăn ngừa trên 90% các trường hợp mắc bệnh trong giai đoạn 1980–2000. Các nghiên cứu đều cho thấy vắc xin chứa thành phần bạch hầu đảm bảo an toàn và có hiệu quả 95% trong vòng 10 năm.
Một thử nghiệm đã chỉ ra, tiêm chủng đầy đủ (ba liều trở lên) được phát hiện có hiệu quả 87% phòng bệnh và hiệu quả 93% trong việc ngăn ngừa tử vong. Miễn dịch từ vắc xin giảm dần theo thời gian, với tỷ lệ cá nhân có hiệu giá kháng thể bảo vệ giảm khoảng 0,6% mỗi năm kể từ khi tiêm chủng. Do đó, đối với những người có yếu tố nguy cơ nên tiêm nhắc lại 10 năm một lần.
Danh mục vắc xin phòng bệnh bạch hầu cho trẻ em và người lớn
Bạch hầu thanh quản là tình trạng nhiễm trùng cấp tính do độc tính bạch hầu lây lan từ vòm họng đến thanh quản, có khả năng gây ra các biến chứng nguy hiểm như tắc nghẽn đường hô hấp, viêm cơ tim, ảnh hưởng thần kinh, thậm chí tử vong. Tiêm vắc xin chính là phương pháp phòng ngừa hiệu quả, với khả năng bảo vệ lên đến 87% và hiệu quả 93% trong việc hạn chế nguy cơ tử vong ở người bệnh.
- Diphtheria. (2025). Empendium.com. https://empendium.com/mcmtextbook-sae/chapter/B78.II.3.67.?rfmcm
- Murphy, J. R. (2025). Corynebacterium Diphtheriae. Nih.gov; University of Texas Medical Branch at Galveston. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK7971/
- Diphtheria. (2025). Historyofvaccines.org. https://historyofvaccines.org/history/diphtheria/timeline
- Stratton, K., Ford, A., Rusch, E., Clayton, E. W., to, C., & Institute of Medicine. (2011, August 25). Diphtheria Toxoid–, Tetanus Toxoid–, and Acellular Pertussis–Containing Vaccines. Nih.gov; National Academies Press (US). https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK190028/
- Diphtheria fact sheet. (2025). Nsw.gov.au. https://www.health.nsw.gov.au/Infectious/factsheets/Pages/diphtheria.aspx
- World. (2018, August 27). Diphtheria WPRO. Who.int; World Health Organization: WHO. https://www.who.int/westernpacific/health-topics/diphtheria#tab=tab_2
- Diphtheria. (2024, July 15). Infectious Disease Advisor. https://www.infectiousdiseaseadvisor.com/ddi/diphtheria/
- Juniorcaius Ikejezie, Busola Adebusoye, Ekezie, W., Langley, T., Lewis, S., & Revati Phalkey. (2023). Modifiable risk factors for diphtheria: A systematic review and meta-analysis. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC10445968/
- Anish Lamichhane, & Radhakrishnan, S. (2024, February 26). Diphtheria. Nih.gov; StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK560911/








