LUÔN CẬP NHẬT THÔNG TIN MỚI, HỮU ÍCH CHO QUÝ KHÁCH

Bệnh bạch hầu: biến chứng đáng sợ và cách phòng ngừa

Trong số 4 trường hợp dương tính bạch hầu ở Đắk Lắk, 3 trường hợp chưa tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu, 1 trường hợp đã tử vong chỉ tiêm 1 mũi. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh người dân không nên chủ quan trong việc phòng bệnh.

Bệnh nhân H’Si Yan (sinh năm 2013, trú buôn H’Ring, xã Ea H’Đinh, huyện Cư M’gar) nhập viện 12h15 ngày 29/8 trong tình trạng tỉnh táo, tiếp xúc tốt, thở khò khè, họng có nhiều giả mạc trắng, bóc ra chảy máu.

14h30 phút cùng ngày, bé chuyển nặng, tiên lượng xấu, theo dõi bạch hầu. 23h30 cùng ngày, bệnh nhân lên cơn khó thở, phản xạ kém, chẩn đoán bạch hầu thanh quản, suy hô hấp cấp độ 4. Đến rạng sáng 30/8, bệnh nhân tử vong, nghi do bạch hầu.

Nguy hiểm hơn, 11 người đến dự đám tang cũng xuất hiện sốt phải nhập viện điều trị. Qua thăm khám, có 3 ca dương tính với bệnh. Bệnh viện lập tức cách ly bệnh nhân và người nhà bệnh nhân để kiểm tra, theo dõi và điều trị kịp thời, tránh hậu quả đáng tiếc.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH BẠCH HẦU – CĂN BỆNH CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI TRONG VÒNG 6-10 NGÀY

Bệnh bạch hầu là gì mà đáng sợ đến thế?

Bệnh bạch hầu (tiếng Anh: diphtheria) là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu – tên khoa học là Corynebacterium diphtheria – gây ra.

Bệnh được Hippocrates miêu tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Một số tài liệu cũng gợi ý đến sự hoành hành của bệnh bạch hầu ở Syria và Ai Cập cổ đại. Các nhà khoa học đã tìm ra vi khuẩn gây bệnh vào khoảng năm 1883-1884, và kháng độc tố được phát minh vào cuối thế kỷ XIX.

Nguyên nhân gây ra bệnh bạch hầu?

Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae. Vi khuẩn bạch hầu có 3 týp là Gravis, Mitis và Intermedius.

Vi khuẩn bạch hầu tiết ra các độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể. Ổ chứa vi khuẩn bạch hầu nằm ở người bệnh và cả người lành mang vi khuẩn. Đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh.

Bệnh có thể lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp khi tiếp xúc với đồ chơi, vật dụng có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu.

Vì vi khuẩn bạch hầu lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp nên tốc độ lây lan rất nhanh, có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da. Sau khoảng 2 tuần nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân đã có thể lây nhiễm cho người khác.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh bạch hầu?

Bệnh Bạch hầu thường khởi đầu như một đợt cảm lạnh thông thường, viêm họng, viêm amidan, hay viêm thanh quản, và có thể bạn sẽ thấy lạ là bệnh này cũng có thể biểu hiện như một bệnh nhiễm trùng da.

Ca bệnh lâm sàng: Trẻ sẽ bị viêm họng, mũi, thanh quản. Họng đỏ, nuốt đau. Da xanh, mệt, nổi hạch ở dưới hàm làm sưng tấy vùng cổ. Khi khám thấy có giả mạc. Giả mạc bạch hầu thường trắng ngà hoặc màu xám dính chặt vào xung quanh tổ chức viêm, nếu bóc ra sẽ bị chảy máu. Ca bệnh xác định chẩn đoán nhờ Phân lập vi khuẩn bạch hầu dương tính từ mẫu bệnh phẩm lâm sàng lấy từ mô bệnh.

Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng bị nhiễm ngoại độc tố bạch hầu tại chỗ là giả mạc và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác và/hoặc viêm cơ tim.

Người mắc bệnh bạch hầu thường có tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Độc tố bạch hầu gây liệt cơ, viêm cơ tim, dẫn đến tử vong trong vòng 6 ngày. Tỷ lệ tử vong khoảng 5% – 10%.

Triệu chứng thường gặp của bệnh bạch hầu?

Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, bệnh bạch hầu sẽ có các biểu hiện khác nhau:

Bệnh bạch hầu mũi trước: Bệnh nhân sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu. Khi khám thầy thuốc có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi. Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.

Bệnh bạch hầu họng và amidan: Bệnh nhân mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ. Sau 2-3 ngày, sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng. Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân. Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ làm cổ bạnh ra như cổ bò. Những trường hợp nhiễm độc nặng bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê. Các bệnh nhân này nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Bạch hầu thanh quản: Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường biểu hiện bằng dấu hiệu sốt, khàn giọng, ho ông ổng. Khi khám, bác sĩ có thể thấy các giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được xử trí kịp thời, các giả mạc này có thể gây tắc đường thở làm bệnh nhân suy hô hấp và có nguy cơ tử vong nhanh chóng.

Bạch hầu các vị trí khác: Thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

Biến chứng nguy hiểm của bệnh bạch hầu?

Tất cả các biến chứng của bệnh bạch hầu kể cả tử vong đều là hậu quả của độc tố. Biến chứng thường gặp nhất trong bệnh bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh.

Biến chứng viêm cơ tim có thể xảy ra trong giai đoạn toàn phát của bệnh hoặc cũng có thể xảy ra chậm vài tuần sau khi bênh đã khỏi. Khi viêm cơ tim xuất hiện sớm trong những ngày đầu của bệnh, tiên lượng thường rất đen tối, tỉ lệ tử vong rất cao.

Biến chứng viêm dây thần kinh thường ảnh hưởng đến dây thần kinh vận động và thường hồi phục hoàn toàn nếu bệnh nhân không tử vong vì biến chứng khác. Liệt màn khẩu cái (màn hầu) thường xuất hiện vào tuần thứ ba của bệnh. Liệt các dây thần kinh vận nhãn, cơ chi và liệt cơ hoành có thể xảy ra vào tuần thứ năm của bệnh. Viêm phổi và suy hô hấp có thể xuất hiện do hậu quả của liệt cơ hoành.

Các biến chứng khác có thể xảy ra như viêm kết mạc mắt hoặc suy hô hấp do tắc nghẽn đường hô hấp có thể xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là nhũ nhi.

Tử vong vào khoảng 5 đến 10% có thể tăng cao đến 20% ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi. Tỉ lệ tử vong của bệnh bạch hầu dường như không thay đổi trong 50 năm qua.

Những ai sẽ bị bệnh bạch hầu?

  • Trẻ em và người lớn không được tiêm vacxin bạch hầu;
  • Những người sống trong điều kiện đông đúc hoặc mất vệ sinh;
  • Bất cứ ai đi du lịch đến một khu vực đang có dịch bệnh bệnh bạch hầu.

Bệnh bạch hầu có chữa được không?

Hiện nay, đã có thuốc để điều trị bệnh bạch hầu, tuy nhiên, trong giai đoạn tiến triển, bệnh bạch hầu có thể gây hại cho tim, thận và hệ thần kinh của người bệnh. Ngay cả khi điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây tử vong với tỷ lệ 3% những người mắc bệnh bạch hầu tử vong, tỷ lệ này còn cao hơn ở trẻ em dưới 15 tuổi.

Phòng ngừa bệnh bạch hầu bằng cách nào?

Bệnh bạch hầu có thể phòng ngừa được bằng biện pháp tiêm phòng vắc xin. Vắc xin bạch hầu có trong tất cả các vắc xin kết hợp 3 trong 1; 4 trong 1; 5 trong 1 hay 6 trong 1 cho trẻ từ 6 tuần đến 6 tuổi:

  • Vắc xin kết hợp 6 trong 1 Hexaxim hoặc Infanrix Hexa (Phòng 6 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan b, bại liệt và các bệnh do Hib).
  • Vắc xin kết hợp 5 trong 1 Pentaxim (Phòng 5 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt và các bệnh do Hib) hoặc vắc xin trong chương trình TCMR ComBE Five (Phòng 5 bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm màng não mủ/viêm phổi do vi khuẩn HiB và viêm gan B).
  • Vắc xin kết hợp 3 trong 1 Adacel phòng các bệnh Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván.
  • Vắc xin kết hợp 4 trong 1 Tetraxim phòng các bệnh Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván – Bại liệt.

Trẻ từ 2 tháng tuổi đã có thể tiêm phòng với 4 mũi tiêm cơ bản lúc 2-3-4 tháng tuổi và liều nhắc lại lúc 18 tháng tuổi.

Vắc xin  6 trong 1 Hexaxim, Infanrix Hexa hiện có sẵn tại hệ thống 12 trung tâm tiêm chủng dành cho Trẻ em và Người lớn VNVC.

Lịch chủng ngừa thông thường là 4 liều. Khoảng cách giữa các mũi tiêm tối thiểu là 4 tuần. Mũi tiêm thứ 4  ách mũi thứ 3 tối thiểu 6 tháng.

Bạn đã cho con mình tiêm ngừa vắc xin bệnh Bạch hầu chưa? Kiểm tra ngay sổ tiêm chủng của bé để đảm bảo bé đã tiêm đủ mũi, đúng lịch.

Vì tính chất nghiêm trọng của bệnh, hãy cho trẻ được chủng ngừa đầy đủ phác đồ!

————————————————————

Thông tin Hệ thống 12 trung tâm VNVC: https://vnvc.vn/he-thong-trung-tam-tiem-chung/

Thông tin giá vắc xin: https://vnvc.vn/bang-gia/

Để đặt lịch tiêm, vui lòng liên hệ Hotline: 028.7300.6595/Tổng đài: 1800.6595 hoặc đặt lịch tiêm tại: https://vnvc.vn/dang-ky-thong-tin-tiem-chung/

Nguồn thông tin: Trung tâm Y tế dự phòng