Danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những gì?

Bệnh truyền nhiễm nhóm A là nhóm bệnh đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây lan rất nhanh, bùng phát thành dịch lớn và đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Việc nhận biết sớm, chủ động phòng ngừa và tiêm chủng đầy đủ là những giải pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh, hạn chế biến chứng và kiểm soát dịch hiệu quả.

danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm a

Bệnh truyền nhiễm nhóm A là gì?

Theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh truyền nhiễm được phân thành 3 nhóm gồm nhóm A, nhóm B và nhóm C dựa trên mức độ nguy hiểm, khả năng lây truyền và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Trong đó, bệnh truyền nhiễm nhóm A là nhóm bệnh đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây lan rất nhanh trong cộng đồng, dễ bùng phát thành dịch trên diện rộng và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

Theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm, đây là nhóm bệnh có tỷ lệ tử vong cao hoặc do tác nhân gây bệnh mới, chưa xác định rõ, đòi hỏi phải được phát hiện sớm, giám sát chặt chẽ và áp dụng ngay các biện pháp phòng, chống dịch khẩn cấp nhằm hạn chế nguy cơ lây lan.

Danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh nào?

Theo quy định số 1965/QĐ-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, Việt Nam hiện xếp 15 bệnh truyền nhiễm vào nhóm A, bao gồm: (1)

1. Bệnh bại liệt;

2. Bệnh dịch hạch;

3. Bệnh do virus cúm A/H5N1;

4. Bệnh do virus cúm A/H5N6;

5. Bệnh do virus cúm A/H7N9;

6. Bệnh do virus cúm A/H9N2;

7. Bệnh do virus Ebola (Bệnh sốt xuất huyết do virus Ebola);

8. Bệnh do virus Lassa (Bệnh sốt xuất huyết do virus Lassa);

9. Bệnh do virus Marburg (Bệnh sốt xuất huyết do virus Marburg);

10. Bệnh do virus Nipah;

11. Bệnh nhiễm virus tây sông Nin;

12. Bệnh sốt vàng;

13. Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng (SARS);

14. Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do virus corona (MERS-CoV);

15. Bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm mới phát sinh, chưa rõ tác nhân gây bệnh.

1. Bại liệt

Bại liệt (Poliomyelitis) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus bại liệt (Poliovirus) thuộc nhóm Enterovirus gây ra. Bệnh chủ yếu lây truyền qua đường phân - miệng khi ăn uống phải thực phẩm, nước uống hoặc tiếp xúc với bàn tay, đồ vật nhiễm virus. Trong một số trường hợp, bệnh cũng có thể lây qua các giọt bắn đường hô hấp ở giai đoạn đầu nhiễm bệnh, với hệ số lây nhiễm rất cao.

Phần lớn người nhiễm virus bại liệt không có triệu chứng hoặc chỉ biểu hiện sốt nhẹ, đau họng, mệt mỏi. Tuy nhiên, ở một tỷ lệ nhỏ người bệnh, đặc biệt là trẻ em, virus có thể xâm nhập hệ thần kinh trung ương, phá hủy các tế bào thần kinh vận động tại tủy sống, gây yếu cơ, liệt mềm cấp không hồi phục.

Những trường hợp liệt cơ hô hấp có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong nếu không được hỗ trợ điều trị kịp thời. Người sống sót cũng có nguy cơ mang di chứng tàn tật suốt đời hoặc xuất hiện hội chứng sau bại liệt nhiều năm sau khi mắc bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ 200 ca bại liệt sẽ có 01 ca dẫn đến liệt không thể phục hồi. Trong số những người bị liệt, lại có 5 - 10% người tử vong co cơ hô hấp bị tê liệt.

Mặc dù Việt Nam và khu vực Tây Thái Bình Dương được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000, nguy cơ bệnh quay trở lại vẫn hiện hữu do sự lưu hành của virus tại một số quốc gia và tình trạng sụt giảm tỷ lệ tiêm chủng ở nhiều nơi trên thế giới. Chính khả năng lây lan nhanh, nguy cơ gây tàn tật vĩnh viễn và bùng phát dịch ở cộng đồng có miễn dịch thấp khiến bại liệt tiếp tục được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A, đòi hỏi phải giám sát chặt chẽ và duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao trong cộng đồng. (2)

bệnh nhân bị bại liệt
Cứ 200 ca bại liệt sẽ có một ca dẫn đến liệt không thể phục hồi, trong số những người bị liệt lại có 5 - 10% người tử vong co cơ hô hấp bị tê liệt.

Để phòng ngừa bại liệt, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC đang triển khai đầy đủ các loại vắc xin phối hợp có thành phần bại liệt có thể kể đến như: Vắc xin 6 trong 1 phòng cả bại liệt và bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, các bệnh do vi khuẩn Hib; vắc xin 4 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván và bại liệt.

Tên vắc xin

Nhóm tuổi

Đăng ký tiêm

Vắc xin Infanrix Hexa (6in1)

Trẻ từ 6 tuần tuổi đến 2 tuổi

Click đăng ký!

Vắc xin Hexaxim (6in1)

Click đăng ký!

Tetraxim (4in1)

Trẻ từ 2 tháng tuổi trở lên đến 13 tuổi (tùy theo khuyến cáo chính thức của từng quốc gia)

Click đăng ký!

2. Dịch hạch

Dịch hạch là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra. Trong tự nhiên, vi khuẩn lưu hành chủ yếu ở các loài gặm nhấm như chuột và được truyền sang người thông qua bọ chét ký sinh trên các động vật này.

Ngoài ra, bệnh còn có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với mô hoặc dịch tiết của động vật nhiễm bệnh. Đặc biệt, ở thể dịch hạch phổi, người bệnh có thể lây trực tiếp sang người khác qua các giọt bắn đường hô hấp, tạo điều kiện để bệnh lan rộng rất nhanh.

Dịch hạch có ba thể bệnh chính gồm dịch hạch thể hạch, dịch hạch nhiễm khuẩn huyết và dịch hạch phổi. Trong đó, dịch hạch phổi là thể bệnh nguy hiểm nhất, diễn tiến rất nhanh với biểu hiện sốt cao, ho, khó thở, viêm phổi nặng, suy hô hấp và có thể tử vong chỉ sau 18 - 24 giờ nếu không được điều trị kháng sinh kịp thời, với tỷ lệ tử vong từ 30 - 100%.

Trước khi có kháng sinh, tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao; ngay cả hiện nay, nếu chẩn đoán và điều trị chậm, nguy cơ tử vong vẫn đáng kể.

Dịch hạch từng gây ra nhiều đại dịch lớn trong lịch sử nhân loại, khiến hàng chục triệu người tử vong. Ước tính đại dịch này đã gây ra cái chết cho 200 triệu người, giết chết 30 - 60% dân số châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ 450 triệu người xuống còn 350 - 375 triệu người vào năm 1.400. Ước tính châu Âu phải mất đến 150 năm để phục hồi dân số như trước thời gian đại dịch.

Dù hiện nay số ca mắc đã giảm đáng kể, WHO vẫn coi đây là bệnh cần giám sát nghiêm ngặt do mầm bệnh vẫn tồn tại trong tự nhiên tại nhiều quốc gia. Khả năng lây lan nhanh, diễn tiến cấp tính và tỷ lệ tử vong cao là những lý do khiến dịch hạch được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A.

tay bệnh nhân nhiễm dịch hạch
Bệnh dịch hạch từng khiến 200 triệu người tử vong, giết chết 30 - 60% dân số châu Âu và giảm dân số toàn cầu từ 450 triệu người xuống còn 350 - 375 triệu người.

3. Bệnh do virus cúm A/H5N1

Cúm A/H5N1, còn gọi là cúm gia cầm độc lực cao, là bệnh truyền nhiễm do virus cúm A phân nhóm H5N1 gây ra. Virus lưu hành chủ yếu ở gia cầm và chim hoang dã. Người thường mắc bệnh khi tiếp xúc gần với gia cầm nhiễm bệnh, môi trường bị ô nhiễm bởi phân hoặc dịch tiết của gia cầm, đặc biệt trong quá trình chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển hoặc chế biến gia cầm không bảo đảm an toàn.

Sau khi nhiễm bệnh, người bệnh thường khởi phát với sốt cao, ho, đau họng, đau cơ, sau đó nhanh chóng tiến triển thành viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp, tổn thương đa cơ quan và có thể tử vong.

Theo WHO, H5N1 là một trong những chủng cúm gia cầm có tỷ lệ tử vong ở người cao nhất từng được ghi nhận, vượt xa cúm mùa thông thường. Trong giai đoạn từ 2003 - 2023, đã có 23 quốc gia báo cáo các trường hợp bệnh nhân dương tính với H5N1. Tỷ lệ bệnh nhân diễn tiến nặng và tử vong là 50%.

Hiện nay, khả năng lây truyền từ người sang người của H5N1 còn hạn chế. Tuy nhiên, giới chuyên môn luôn theo dõi sát vì virus cúm có khả năng đột biến và tái tổ hợp gene. Nếu xuất hiện biến chủng có thể lây hiệu quả giữa người với người, nguy cơ hình thành đại dịch toàn cầu sẽ rất lớn. Chính nguy cơ này khiến H5N1 luôn nằm trong danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A cần giám sát đặc biệt.

4. Bệnh do virus cúm A/H5N6

Cúm A/H5N6 là bệnh do một chủng virus cúm gia cầm độc lực cao khác gây ra. Tương tự H5N1, nguồn lây chủ yếu là gia cầm mắc bệnh hoặc môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm. Các ca bệnh ở người được ghi nhận chủ yếu sau khi tiếp xúc trực tiếp với gia cầm sống hoặc gia cầm chết do bệnh.

Bệnh có biểu hiện ban đầu tương tự cúm thông thường nhưng thường diễn tiến nhanh sang viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan. Nhiều trường hợp phải điều trị hồi sức tích cực và sử dụng hệ thống hỗ trợ hô hấp hiện đại.

Trong số các trường hợp được ghi nhận tại Trung Quốc vào năm 2021, tỷ lệ bệnh nhân mắc cúm A/H5N6 diễn tiến nặng lên tới 93,8%, tỷ lệ tử vong khoảng 55,4%, với độ tuổi trung bình của người mắc bệnh là 51 tuổi. (3)

Dù số ca mắc ở người còn ít, H5N6 được đánh giá là chủng virus có khả năng gây bệnh nặng và liên tục biến đổi về mặt di truyền. WHO và các cơ quan y tế quốc tế vẫn coi đây là một trong những chủng cúm gia cầm cần ưu tiên giám sát nhằm phát hiện sớm nguy cơ thích nghi với cơ thể người. Đây cũng là lý do bệnh được xếp vào nhóm A để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch ở mức cao nhất khi xuất hiện ca bệnh.

gà bị cúm h5n6
Cúm A/H5N6 là chủng virus cúm gia cầm độc lực cao, có khả năng lây nhanh trong đàn gia cầm, gây hiện tượng gia cầm chết hàng loạt và lây nhiễm sang người.

5. Bệnh do virus cúm A/H7N9

Cúm A/H7N9 là bệnh truyền nhiễm do virus cúm A phân nhóm H7N9 gây ra. Virus lưu hành chủ yếu ở gia cầm nhưng nhiều đàn gia cầm nhiễm bệnh hầu như không biểu hiện triệu chứng, khiến việc phát hiện và kiểm soát nguồn lây gặp nhiều khó khăn. Người chủ yếu nhiễm bệnh khi tiếp xúc với gia cầm sống hoặc môi trường tại các chợ buôn bán gia cầm.

Không giống cúm mùa, H7N9 thường gây bệnh rất nặng ở người. Sau giai đoạn sốt, ho và mệt mỏi, nhiều bệnh nhân nhanh chóng tiến triển thành viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), suy đa tạng và phải điều trị hồi sức tích cực.

Điều khiến H7N9 đặc biệt đáng lo ngại là virus có khả năng lưu hành âm thầm trong đàn gia cầm mà không gây chết hàng loạt như một số chủng cúm khác, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm cho con người.

Bên cạnh đó, virus cúm luôn có khả năng đột biến và tái tổ hợp gene, tạo ra nguy cơ xuất hiện chủng mới có khả năng lây truyền hiệu quả giữa người với người. Vì vậy, H7N9 được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A để bảo đảm phát hiện sớm, kiểm soát nguồn lây và ứng phó kịp thời trước nguy cơ bùng phát dịch.

6. Bệnh do virus cúm A/H9N2

Cúm A/H9N2 là bệnh truyền nhiễm do virus cúm A phân nhóm H9N2 gây ra. Đây là chủng virus lưu hành phổ biến ở gia cầm, đặc biệt là gà, vịt và chim nuôi. Người thường mắc bệnh sau khi tiếp xúc gần với gia cầm nhiễm bệnh hoặc môi trường bị ô nhiễm bởi dịch tiết, phân của động vật mang virus trong quá trình chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ hoặc buôn bán.

Phần lớn các trường hợp nhiễm H9N2 ở người được ghi nhận có biểu hiện nhẹ như sốt, ho, đau họng và mệt mỏi. Tuy nhiên, WHO đánh giá H9N2 là chủng virus cần được giám sát chặt chẽ vì có khả năng thích nghi với cơ thể người và từng đóng vai trò cung cấp vật liệu di truyền cho nhiều chủng cúm gia cầm độc lực cao khác. Khả năng tái tổ hợp gene này làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các biến chủng mới có khả năng lây lan mạnh hoặc gây bệnh nặng hơn.

Mặc dù chưa gây ra các đợt bùng phát lớn ở người, H9N2 vẫn được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A do tiềm ẩn nguy cơ tiến hóa thành các chủng cúm mới có khả năng gây dịch hoặc đại dịch. Việc giám sát liên tục tại đàn gia cầm và trên người là biện pháp quan trọng để phát hiện sớm những thay đổi của virus và triển khai các biện pháp ứng phó kịp thời.

Ngoài ra, mặc dù vắc xin cúm mùa hiện nay chưa phòng ngừa được chủng cúm A/H9N2, song một số nghiên cứu cho thấy vắc xin có khả năng làm giảm nguy cơ mắc cúm gia cầm nặng ở người lớn tuổi và người có bệnh nền. Do đó, bên cạnh việc tránh tiếp xúc với động vật mắc bệnh, nấu chín kỹ thịt gia cầm trước khi ăn, giữ vệ sinh cá nhân thì việc tiêm chủng vắc xin cúm đầy đủ và không quên các mũi nhắc hàng năm mang ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa bệnh cúm.

Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC hiện có đầy đủ các loại vắc xin phòng cúm cho trẻ em và người lớn. Vắc xin được nhập khẩu chính hãng từ các nhà sản xuất uy tín trong và ngoài nước, bảo quản chất lượng, tiêm an toàn.

Tên vắc xin

Chủng cúm phòng ngừa

Nhóm tuổi

Đăng ký tiêm

Influvac Tetra (Hà Lan)

2 chủng virus cúm A/H1N1, A/H3N2, 2 chủng virus cúm B/Yamagata và B/Victoria

Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên và người lớn

Click đăng ký!

GC Flu Quadrivalent (Hàn Quốc)

Click đăng ký!

Ivacflu-S (Việt Nam)

3 chủng virus cúm A/H1N1, A/H3N2 và 1 chủng virus cúm B đang lưu hành theo khuyến cáo của WHO

Click đăng ký!

Vaxigrip (Pháp)

Click đăng ký!

tiêm phòng bệnh truyền nhiễm cho trẻ
Người dân cần lưu ý tiêm vắc xin phòng cúm và không quên các mũi tiêm nhắc lại hàng năm.

7. Bệnh do virus Ebola (Bệnh sốt xuất huyết do virus Ebola)

Bệnh do virus Ebola là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất thế giới, do các virus thuộc chi Ebolavirus gây ra. Nguồn chứa tự nhiên được cho là các loài dơi ăn quả, từ đó virus có thể lây sang động vật hoang dã và con người. Người mắc bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể hoặc mô của người bệnh, người tử vong do Ebola hoặc động vật nhiễm bệnh.

Bệnh không lây qua không khí như cúm hay Covid-19, nhưng khả năng lây qua tiếp xúc trực tiếp rất cao, đặc biệt trong môi trường chăm sóc y tế hoặc tang lễ nếu không áp dụng đầy đủ các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn.

Thời gian ủ bệnh thường từ 2 - 21 ngày. Người bệnh khởi phát với sốt cao, đau đầu dữ dội, đau cơ, mệt mỏi, sau đó nhanh chóng xuất hiện nôn, tiêu chảy, đau bụng, tổn thương gan, thận và rối loạn đông máu. Một số trường hợp có biểu hiện xuất huyết dưới da, chảy máu niêm mạc hoặc xuất huyết nội tạng. Khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh có thể rơi vào sốc, suy đa cơ quan và tử vong.

Theo WHO, tỷ lệ tử vong của Ebola dao động từ khoảng 25 - 90% tùy chủng virus và điều kiện chăm sóc y tế, với tỷ lệ tử vong trung bình khoảng 50% trong các đợt dịch đã ghi nhận. Chính khả năng gây bệnh cực kỳ nặng, tỷ lệ tử vong cao, nguy cơ bùng phát thành các ổ dịch lớn và tác động nghiêm trọng đến hệ thống y tế khiến Ebola được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A và luôn nằm trong danh mục các bệnh cần giám sát toàn cầu.

8. Bệnh sốt xuất huyết do virus Lassa

Sốt xuất huyết Lassa là bệnh truyền nhiễm do virus Lassa thuộc họ Arenaviridae gây ra. Bệnh lưu hành chủ yếu tại khu vực Tây Phi. Nguồn lây chính là chuột đa vú (Mastomys natalensis), loài gặm nhấm thường sinh sống gần khu dân cư. Con người có thể nhiễm bệnh khi tiếp xúc với nước tiểu, phân của chuột hoặc thực phẩm, đồ dùng bị ô nhiễm. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây từ người sang người qua tiếp xúc với máu, dịch tiết hoặc các dụng cụ y tế nhiễm virus.

Khoảng 80% trường hợp nhiễm Lassa có triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng. Tuy nhiên, ở những ca bệnh nặng, người bệnh có thể sốt cao kéo dài, đau họng, đau ngực, nôn, tiêu chảy, phù mặt, xuất huyết, suy gan, suy thận và suy đa cơ quan. Một biến chứng đáng chú ý là mất thính lực, có thể xảy ra ngay cả ở những người đã khỏi bệnh.

WHO ước tính mỗi năm có hàng trăm nghìn ca nhiễm Lassa tại các quốc gia lưu hành. Bệnh có thể gây tử vong cao ở các trường hợp nặng, đặc biệt ở phụ nữ mang thai trong ba tháng cuối và thai nhi. Khả năng lây nhiễm trong bệnh viện, nguy cơ bùng phát thành dịch và tỷ lệ biến chứng nghiêm trọng khiến sốt xuất huyết Lassa được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A.

9. Bệnh sốt xuất huyết do virus Marburg

Marburg là bệnh sốt xuất huyết do virus Marburg thuộc họ Filoviridae, cùng họ với virus Ebola. Dơi ăn quả được xem là vật chủ tự nhiên của virus. Bệnh có thể lây sang người khi tiếp xúc với dơi hoặc môi trường có dơi sinh sống, sau đó tiếp tục lây từ người sang người thông qua máu, dịch cơ thể hoặc các vật dụng bị nhiễm virus.

Sau thời gian ủ bệnh từ 2 - 21 ngày, người bệnh thường khởi phát đột ngột với sốt cao, đau đầu dữ dội, đau cơ, sau đó xuất hiện tiêu chảy nặng, nôn, đau bụng và suy kiệt nhanh. Ở giai đoạn muộn, người bệnh có thể bị xuất huyết trong và ngoài cơ thể, sốc, tổn thương gan, thận và suy đa cơ quan.

Tỷ lệ tử vong của Marburg dao động khoảng 23 - 90%, trung bình là 50%, tùy theo chủng virus và chất lượng điều trị. Hiện bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu được sử dụng rộng rãi, việc điều trị chủ yếu là hồi sức tích cực và hỗ trợ chức năng các cơ quan. Với khả năng gây dịch, tỷ lệ tử vong rất cao và nguy cơ lây lan trong cơ sở y tế nếu không kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt, Marburg được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cần giám sát đặc biệt.

10. Bệnh do virus Nipah

Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm mới nổi do virus Nipah thuộc họ Paramyxoviridae gây ra. Vật chủ tự nhiên là các loài dơi ăn quả thuộc giống Pteropus. Virus có thể lây sang người qua tiếp xúc với dơi, động vật trung gian như lợn hoặc thông qua thực phẩm bị nhiễm, điển hình là nhựa cây chà là tươi bị dơi mang virus làm ô nhiễm. Tại một số đợt dịch, bệnh cũng được ghi nhận có khả năng lây trực tiếp từ người sang người, đặc biệt trong gia đình và cơ sở y tế.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng, từ nhiễm không triệu chứng đến sốt, đau đầu, viêm đường hô hấp cấp. Tuy nhiên, nhiều trường hợp nhanh chóng tiến triển thành viêm não cấp với các triệu chứng rối loạn ý thức, co giật, hôn mê và suy hô hấp. Một số người sống sót vẫn có thể gặp các di chứng thần kinh kéo dài hoặc tái phát viêm não sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Theo WHO, tỷ lệ tử vong của bệnh Nipah dao động từ khoảng 40 - 75%, tùy thuộc từng đợt dịch và năng lực điều trị của hệ thống y tế. Điều đáng lo ngại là hiện chưa có vắc xin hoặc thuốc điều trị đặc hiệu được sử dụng rộng rãi, trong khi bệnh có khả năng lây từ động vật sang người, từ người sang người và gây viêm não với tỷ lệ tử vong rất cao.

Chính những đặc điểm này khiến Nipah được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A và nằm trong danh sách các tác nhân ưu tiên nghiên cứu của WHO do nguy cơ gây bùng phát dịch trong tương lai.

ống nghiệm virus nipah
Bệnh do virus Nipah có khả năng lây lan thành dịch với tỷ lệ tử vong cao, khoảng 40 - 75%.

11. Bệnh nhiễm virus Tây sông Nin

Bệnh nhiễm virus Tây sông Nin (West Nile virus disease) là bệnh truyền nhiễm do virus West Nile thuộc họ Flaviviridae gây ra. Virus lưu hành chủ yếu trong quần thể chim hoang dã và được truyền sang người thông qua muỗi, chủ yếu là muỗi thuộc chi Culex.

Con người và ngựa được xem là vật chủ ngẫu nhiên, không đủ nồng độ virus trong máu để tiếp tục lây truyền cho muỗi, vì vậy bệnh hầu như không lây trực tiếp từ người sang người. Trong một số trường hợp rất hiếm, virus có thể lây qua truyền máu, ghép tạng hoặc từ mẹ sang con trong thai kỳ hoặc khi cho con bú.

Theo WHO, khoảng 80% người nhiễm virus Tây sông Nin không có triệu chứng. Khoảng 20% xuất hiện các biểu hiện nhẹ như sốt, đau đầu, đau cơ, phát ban, nổi hạch hoặc mệt mỏi kéo dài. Tuy nhiên, khoảng 1% trường hợp có thể diễn tiến thành bệnh lý thần kinh xâm lấn như viêm não, viêm màng não hoặc liệt mềm cấp, đặc biệt ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và người mắc bệnh mạn tính.

Tỷ lệ tử vong chung của bệnh thường <5% số ca nhập viện, tuy nhiên có thể lên đến 18% trong một số vụ dịch, thường do hội chứng não, hôn mê và tử vong. Những trường hợp này có nguy cơ để lại di chứng thần kinh lâu dài hoặc tử vong. (4)

Mặc dù phần lớn ca bệnh diễn biến nhẹ, virus Tây sông Nin vẫn được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A do có khả năng lan rộng theo phạm vi hoạt động của muỗi truyền bệnh và chim di cư, từng gây nhiều đợt bùng phát dịch tại châu Phi, châu Âu, Trung Đông và châu Mỹ. Việc chưa có vắc xin phòng bệnh cho người và nguy cơ xuất hiện các ca bệnh thần kinh nặng khiến bệnh cần được giám sát chặt chẽ.

12. Bệnh sốt vàng

Sốt vàng là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus sốt vàng (Yellow fever virus) thuộc họ Flaviviridae gây ra. Bệnh lây truyền sang người qua vết đốt của muỗi nhiễm virus, chủ yếu là muỗi Aedes aegypti ở khu vực đô thị và một số loài muỗi khác trong rừng. Đây cũng là loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, Zika và Chikungunya.

Sau thời gian ủ bệnh từ 3 - 6 ngày, người bệnh thường khởi phát với sốt cao, đau đầu, đau cơ, buồn nôn và mệt mỏi. Phần lớn trường hợp có thể hồi phục sau vài ngày. Tuy nhiên, khoảng 15% bệnh nhân bước vào giai đoạn nhiễm độc với tổn thương gan, vàng da, xuất huyết, suy thận, rối loạn đông máu và suy đa cơ quan. Theo WHO, trong nhóm bệnh nhân chuyển sang giai đoạn nặng, tỷ lệ tử vong có thể lên tới khoảng 50% nếu không được điều trị hỗ trợ kịp thời.

Sốt vàng từng gây ra nhiều vụ dịch lớn trong lịch sử và hiện vẫn lưu hành tại nhiều quốc gia ở châu Phi và Nam Mỹ. Bệnh được xếp vào nhóm truyền nhiễm nhóm A vì có khả năng lây lan nhanh qua muỗi truyền bệnh tại các khu vực có véc tơ thích hợp, đồng thời gây tỷ lệ tử vong cao ở các trường hợp nặng. Đây cũng là một trong số ít bệnh mà nhiều quốc gia yêu cầu có Giấy chứng nhận tiêm vắc xin quốc tế khi nhập cảnh từ vùng dịch.

May mắn, sốt vàng là căn bệnh đã có vắc xin phòng ngừa hiệu quả. Vắc xin phòng sốt vàng Stamaril (Pháp) được chỉ định tiêm cho trẻ từ 9 tháng tuổi đến người lớn 60 tuổi phòng bệnh sốt vàng. Để kiểm tra tình trạng vắc xin tại Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC, xin vui lòng liên hệ Hotline 028 7102 6595 để được hỗ trợ.

13. Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng (SARS)

Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng (Severe Acute Respiratory Syndrome - SARS) là bệnh truyền nhiễm do virus SARS-CoV gây ra. Bệnh được phát hiện lần đầu vào năm 2002 và nhanh chóng lan ra nhiều quốc gia, trở thành một trong những đợt bùng phát dịch nguy hiểm nhất đầu thế kỷ XXI.

Virus SARS chủ yếu lây từ người sang người qua các giọt bắn đường hô hấp khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện ở khoảng cách gần. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây qua tiếp xúc với bề mặt, đồ vật nhiễm dịch tiết rồi đưa tay lên mắt, mũi hoặc miệng. Trong môi trường chăm sóc y tế, SARS từng gây nhiều chuỗi lây nhiễm lớn nếu không thực hiện nghiêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn.

Người bệnh thường khởi phát với sốt cao, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sau đó xuất hiện ho khan và khó thở. Một số trường hợp nhanh chóng tiến triển thành viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), suy đa cơ quan và tử vong. Đợt dịch SARS năm 2002 - 2003 ghi nhận tỷ lệ tử vong khoảng 10%, nhưng cao hơn đáng kể ở người cao tuổi và người có bệnh nền.

SARS được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A vì khả năng lây lan nhanh qua đường hô hấp, nguy cơ gây dịch trên phạm vi quốc tế và tác động lớn đến hệ thống y tế cũng như kinh tế - xã hội. Mặc dù hiện chưa ghi nhận ca SARS tự nhiên nào kể từ năm 2004, WHO vẫn duy trì giám sát do nguy cơ tái xuất hiện của các virus corona mới.

bệnh nhân nhiễm sars
Hầu hết bệnh nhân nhiễm SARS sẽ bị viêm phổi, khó thở, cần hỗ trợ hô hấp và có thể dẫn đến tử vong trong một số trường hợp.

14. Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do virus corona (MERS-CoV)

Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông (Middle East Respiratory Syndrome - MERS) là bệnh truyền nhiễm do virus MERS-CoV gây ra. Bệnh được phát hiện lần đầu tại Saudi Arabia vào năm 2012. Lạc đà một bướu được xác định là nguồn truyền virus sang người, trong khi lây truyền từ người sang người chủ yếu xảy ra ở các cơ sở y tế hoặc giữa những người tiếp xúc rất gần.

Biểu hiện lâm sàng của MERS rất đa dạng, từ không triệu chứng đến viêm phổi nặng. Người bệnh thường sốt, ho, khó thở, đau cơ; nhiều trường hợp xuất hiện viêm phổi tiến triển nhanh, suy hô hấp, suy thận cấp và suy đa cơ quan. Người cao tuổi, người mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính hoặc suy giảm miễn dịch có nguy cơ diễn tiến nặng cao hơn.

Theo WHO, MERS có tỷ lệ tử vong khoảng 35% trong số các ca bệnh được xác nhận. Mặc dù khả năng lây lan giữa người với người thấp hơn SARS hay COVID-19, bệnh vẫn có nguy cơ gây các ổ dịch lớn trong bệnh viện nếu không phát hiện và kiểm soát kịp thời. Chính tỷ lệ tử vong cao và nguy cơ lan truyền trong môi trường y tế khiến MERS được xếp vào nhóm bệnh truyền nhiễm nhóm A.

15. Bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm mới phát sinh, chưa rõ tác nhân gây bệnh

Bên cạnh các bệnh đã được xác định, quy định của Bộ Y tế cũng đưa vào nhóm A các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm mới phát sinh hoặc chưa xác định rõ tác nhân gây bệnh. Đây là những bệnh xuất hiện lần đầu hoặc có đặc điểm dịch tễ bất thường, có khả năng lây lan nhanh, gây bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao hoặc tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thành dịch lớn nhưng chưa xác định được chính xác căn nguyên hoặc chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học về cơ chế lây truyền.

Việc đưa nhóm bệnh này vào danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm A giúp cơ quan y tế chủ động kích hoạt ngay các biện pháp ứng phó khẩn cấp như tăng cường giám sát dịch tễ, điều tra nguồn lây, xét nghiệm xác định tác nhân, cách ly ca bệnh, truy vết người tiếp xúc và triển khai các biện pháp kiểm soát dịch theo nguyên tắc thận trọng cao nhất. Cách tiếp cận này cho phép hệ thống y tế phản ứng sớm trước các mối đe dọa mới nổi, hạn chế nguy cơ dịch lan rộng ngay từ giai đoạn đầu.

Thực tế trong những năm gần đây cho thấy nhiều bệnh truyền nhiễm mới nổi có nguồn gốc từ động vật và có thể nhanh chóng vượt qua biên giới quốc gia nhờ hoạt động giao lưu, du lịch và thương mại quốc tế. Vì vậy, việc duy trì hệ thống giám sát chủ động, năng lực phát hiện sớm, phối hợp giữa các quốc gia và nâng cao ý thức phòng bệnh của cộng đồng được WHO xác định là những yếu tố then chốt nhằm ứng phó hiệu quả với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh trong tương lai.

⇒ Bạn có thể tìm hiểu thêm: Có mấy nhóm bệnh truyền nhiễm theo danh mục của Bộ Y tế?

Quy định về phòng chống các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bệnh truyền nhiễm được phân thành nhiều nhóm dựa trên mức độ nguy hiểm, trong đó nhóm A là nhóm bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây lan rất nhanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn. Vì vậy, khi phát hiện ca bệnh hoặc nghi ngờ có ổ dịch, các cơ quan y tế sẽ nhanh chóng triển khai các biện pháp giám sát, điều tra dịch tễ và xử lý theo quy định nhằm hạn chế nguy cơ lây lan.

Tùy theo tình hình thực tế, các biện pháp phòng, chống có thể bao gồm đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh, khoanh vùng và xử lý ổ dịch, cách ly y tế đối với người mắc hoặc nghi mắc bệnh, kiểm dịch y tế tại cửa khẩu khi cần thiết, đồng thời tăng cường vệ sinh môi trường, khử khuẩn và áp dụng các biện pháp bảo vệ cá nhân.

Đối với những bệnh đã có vắc xin hoặc sinh phẩm phòng bệnh, cơ quan y tế sẽ tổ chức tiêm chủng theo chương trình phù hợp nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh và kiểm soát sự lây lan trong cộng đồng.

Bên cạnh vai trò của ngành y tế, mỗi người dân cũng có trách nhiệm chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh, tuân thủ hướng dẫn của cơ quan y tế, khai báo kịp thời khi có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh hoặc có yếu tố dịch tễ liên quan, đồng thời hợp tác trong quá trình điều tra, giám sát và phòng, chống dịch.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở y tế và người dân là yếu tố quan trọng giúp phát hiện sớm, khống chế hiệu quả các bệnh truyền nhiễm nhóm A và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Làm thế nào để giảm nguy cơ mắc những bệnh này?

Các bệnh truyền nhiễm nhóm A có khả năng lây lan nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, chủ động phòng bệnh là biện pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và hạn chế sự phát tán của tác nhân gây bệnh.

  • Tiêm vắc xin đầy đủ: Tiêm chủng giúp cơ thể tạo miễn dịch phòng ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Người dân nên tiêm vắc xin theo khuyến cáo, đúng lịch và tham khảo ý kiến nhân viên y tế trước, trong và sau khi tiêm để đảm bảo an toàn.
  • Giữ vệ sinh cá nhân, môi trường: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, không dùng chung đồ dùng cá nhân, vệ sinh nhà cửa và xử lý chất thải đúng cách giúp hạn chế nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh.
  • Đảm bảo an toàn thực phẩm: Lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chế biến chín kỹ, bảo quản đúng cách và vệ sinh tay trước khi ăn, khi chế biến giúp phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa.
  • Bảo vệ bản thân khi có nguy cơ: Đeo khẩu trang tại nơi đông người, khu vực có dịch hoặc khi tiếp xúc với người có triệu chứng nghi ngờ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm qua đường hô hấp. Đồng thời, cần tuân thủ hướng dẫn phòng bệnh của cơ quan y tế.

Bệnh truyền nhiễm nhóm A là nhóm bệnh đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây lan nhanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cá nhân và cộng đồng. Bên cạnh sự chủ động của ngành y tế, mỗi người dân cần nâng cao ý thức phòng bệnh thông qua tiêm chủng đầy đủ, duy trì vệ sinh cá nhân, thực hiện an toàn thực phẩm và tuân thủ các khuyến cáo y tế khi có dịch xảy ra. Chủ động phòng ngừa không chỉ giúp bảo vệ bản thân mà còn góp phần hạn chế sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong cộng đồng.

Chủ đề: #Bệnh truyền nhiễm nhóm A
04:08 13/07/2026
Share Facebook Share Twitter Share Pinterest
Nguồn tham khảo
  1. LuatVietnam. (2026, July 3). Quyết định 1965/QĐ-BYT 2026 về việc ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm thuộc các nhóm bệnh truyền nhiễm. LuatVietnam. https://luatvietnam.vn/y-te/quyet-dinh-1965-qd-byt-2026-ban-hanh-danh-muc-benh-truyen-nhiem-thuoc-cac-nhom-439367-d1.html
  2. World Health Organization. (2025, April 2). Poliomyelitis. Who.Int; World Health Organization: WHO. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/poliomyelitis
  3. Zhu, W., Li, X., Dong, J., Bo, H., Liu, J., Yang, J., Zhang, Y., Wei, H., Huang, W., Zhao, X., Chen, T., Yang, J., Li, Z., Zeng, X., Li, C., Tang, J., Xin, L., Gao, R., Liu, L., … Wang, D. (2022). Epidemiologic, Clinical, and Genetic Characteristics of Human Infections with Influenza A(H5N6) Viruses, China. Emerging Infectious Diseases28(7), 1332–1344. https://doi.org/10.3201/eid2807.212482
  4. QsvProgram. (2016). Bệnh sốt Tây sông Nin (Nile) | Viện Pasteur TP.HCM | Phục vụ sức khỏe cộng đồng. Pasteurhcm.Gov.Vn. http://www.pasteurhcm.gov.vn/news/benh-sot-tay-song-nin-nile-63.html

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ